Di tản siêu mật

Đây là một trong những kế hoạch tuyệt mật của Mỹ bao gồm chiến dịch di tản siêu mật, hệ thống các boong-ke siêu đẳng cùng mạng lưới dịch vụ của kỷ nguyên vũ trụ. Tất cả nhằm phòng tránh trường hợp bị giáng đòn hạt nhân bất ngờ và phản công hiệu quảTên của kế hoạch là “Phương án dự phòng tổng thể khi có tai biến” – theo cách gọi chính thức, nhưng giới chức cao cấp tại Washington lại thích gọi tắt theo tinh thần chính của tài liệu là sách lược “Tiếp tục chỉ đạo” (TTCĐ).

Sau khi người Nga thử thành công vũ khí nguyên tử vào năm 1949, các nhà chiến lược quân sự Washington bắt đầu tính đến các biện pháp phòng thủ khi có hiểm họa của một cuộc tấn công hạch tâm. Từ năm 1951, Tổng thống Harry Truman đã cho thành lập Cơ quan Phòng thủ Quốc gia vạch ra những kế hoạch đầu tiên nhằm sơ tán “biệt khu” Washington D.C.

Qua năm sau, lực lượng công binh đặc biệt thuộc Lục quân Mỹ bắt tay vào xây dựng hệ thống boong-ke khổng lồ trong vùng núi thuộc tiểu bang Virginia, không xa thủ đô Washington mấy. Địa danh này được gọi là Mount Weather, nơi trú ẩn lớn nhất và chắc chắn nhất về chống nhiễm xạ trên toàn nước Mỹ. Sự tồn tại của địa danh này được giữ kín tới năm 1974 mới bị phát hiện một cách tình cờ, khi một chiếc phi cơ dân dụng của hãng TWA gặp nạn và rơi xuống gần khu boong-ke.

Cải tiến TTCĐ

Cố tổng thống R. Reagan từng rêu rao ngay từ đầu nhiệm kỳ thứ nhất rằng “người Mỹ sẽ thắng trong cuộc chiến hạt nhân, nếu như Washington biết cách bảo toàn lực lượng”, nhằm tung hê trò chơi hạch tâm và mở đường cho “sáng kiến phòng thủ chiến lược” (SDI) bành trướng lên vũ trụ, buộc các ban chuyên nhiệm của chính phủ mới phải thẩm định lại TTCĐ. Té ra là kỹ thuật trong “làng boong-ke” vẫn nguyên xi như hồi các thập niên 1950 và 1960. Một kế hoạch tân trang kỹ thuật cấp tốc được soạn thảo. Tới tháng 2-1982, một cơ quan mật mới, được mệnh danh là Văn phòng về các kế hoạch của hệ thống huy động quân sự đã ra đời. Trước khi G. Bush-cha thế chỗ Reagan trong Phòng Bầu dục, hơn 3 tỉ USD đã được ném thêm vào để hoàn thiện mọi việc liên quan đến TTCĐ.

Kế hoạch đồ sộ này khiến người ta phát… ngợp. Những nhân vật chủ cốt trong hệ thống “mắt xích” lãnh đạo sự phòng thủ chung – trong trường hợp tổng thống vắng mặt – luôn được theo dõi sát hằng ngày. Cơ quan dịch vụ chiến lược thuộc Nhà Trắng, cùng với cơ quan liên bang quản lý trong trường hợp đặc biệt (FEMA) và Lầu Năm Góc đưa vào bộ nhớ mạng vi tính của mình lộ trình từng giây một của các nhân vật chóp bu này.

Điều lệ của TTCĐ còn quy định: Bất cứ lúc nào, cũng phải có ít nhất một người trong số 17 quan chức có quyền thay mặt tổng thống khi có cuộc chiến hạt nhân phải ở xa thủ đô. Nhưng các nguồn tin tình báo cho biết, rằng họ có hàng “đống” các dữ kiện về sự “có mặt đồng thời” của cả 17 vị tại Washington và cách nhau không đầy hai dặm. Theo nội dung chính của TTCĐ – với mật danh “Chóp cây” – khi có đòn tấn công hạch tâm, các ê-kíp đặc biệt được trang bị các kế hoạch thời chiến, mật mã quân sự và những số liệu tuyệt mật quan trọng khác, cần phải tháp tùng mỗi một cá nhân – trong nhóm 17 vị được chỉ định có quyền thay mặt tổng thống kia – tới những trạm chỉ huy mật rải rác trong cả nước.

Riêng tổng thống rời Nhà Trắng bằng Crawn Heloy – một trạm chỉ huy trên không, được thiết kế trong một chiếc trực thăng siêu hạng, để tới đài chỉ huy quốc gia trên không dành cho tình trạng khẩn trương – được gọi bằng mật danh “Nicep”: đó là chiếc B. 747 chuyên dụng với mọi kỹ thuật mới nhất về mạng lưới truyền tin và điều khiển không gian. Thực ra có tới bốn trạm “Nicep”: một chiếc luôn bay tuần thường xuyên trên trời, còn một chiếc túc trực sẵn sàng cất cánh tại căn cứ không quân Andrew – cách Nhà Trắng 10 phút bay bằng trực thăng. Hai chiếc “Nicep” còn lại thuộc đội dự bị.

Ai được di tản?

Ngoài tổng thống và 17 nhân vật quyền thế nói trên, Lầu Năm Góc còn có kế hoạch di tản 46 tướng lĩnh đang tại chức trong Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân. Có “giấy phép đặc biệt hạng I” và 248 người có “giấy phép đặc biệt hạng II”, là các chuyên viên về ứng xử trong điều kiện hạt nhân, các sĩ quan cao cấp thuộc Lầu Năm Góc và các cơ quan phân tích tình báo chiến lược thiết yếu khác. Số này cũng được không vận tới làng boong-ke, nhưng chỉ giới hạn trong khoảng thời gian được máy bay bốc đi là từ 9-17 giờ mỗi ngày, không kể thứ bảy và chủ nhật. Cuối cùng là số hơn một ngàn người cần thiết cho sự hoạt động của các cơ quan chỉ đạo thời chiến và họ cũng cần phải sơ tán.

Xung quanh kế hoạch TTCĐ ngốn hàng tỉ USD trong ngân sách quốc gia này, Ủy ban Quân lực Thượng viện, Lầu Năm Góc và Lục quân Mỹ đã “moi” ra hàng chục triệu USD nhũng lạm như các công việc “ma” mới chỉ làm một nửa cũng đã được viết phiếu chi. Đa phần đơn đặt hàng cung cấp dịch vụ cho Mount Weather rơi vào tay các công ty tư do các cựu sĩ quan thuộc Bộ Quốc phòng làm chủ…

Rồi việc kiểm tra chất lượng cũng như quyết toán toàn bộ công trình “trú ẩn chiến lược” đang còn nhiều vấn đề gây tranh cãi… Phương sách “chạy trốn hạt nhân” của người đứng đầu “siêu cường” Mỹ thật ra không đơn giản chút nào như mục tiêu ban đầu đề ra…

Giấu cả Quốc hội

Nhìn một góc độ nào đó, sách lược TTCĐ thật là viển vông, bởi các vũ khí đạn đạo hạch tâm tầm xa của đối phương đâu có lạ gì tọa độ của Mount Weather và phi trường quân sự Andrew. Vì vậy các chuyên viên của FEMA cùng với Lầu Năm Góc đã chia Mỹ quốc ra làm 10 “vùng chiến thuật”, trong đó có ít nhất 50 boong-ke trú ẩn chống phóng xạ riêng biệt cùng đài chỉ huy. Chúng liên lạc với nhau qua vệ tinh, bằng điện thoại mặt đất hoặc sóng siêu tần…

Mỗi một “cứ điểm” này đều có thể thay thế Nhà Trắng và có thực quyền “như một chính phủ mới, vừa được khôi phục”. Về phương diện lý thuyết thuần túy, mỗi một “cứ điểm” tuyệt mật kiểu này đều có thể được tổng thống hay những người có quyền thay mặt ông ta trú đóng, khiến địch quân không thể biết được chính phủ thực sự hiện đang ở đâu.

Nhằm mục đích tuyệt mật, Nhà Trắng đã giấu phần lớn kế hoạch, tránh sự kiểm soát của Quốc hội. Thậm chí nhiều sĩ quan cao cấp trong Bộ Quốc phòng chưa hề nghe nói tới sự tồn tại của kế hoạch TTCĐ. Tuy là công trình trọng điểm có tầm cỡ hàng đầu về an ninh quốc gia, nhưng không phải mọi sự đều tuyệt hảo. Như trong năm 2005 đã có hai sự cố khi lắp đặt hệ máy điện toán mới, chuyên dụng cho các vụ nổ hạt nhân.

Người ta cũng đã tập báo động, nhưng vẫn còn… lôi thôi lắm. Lúc ấy các chuyên viên tình báo mới phát hiện ra là 5 máy chủ của năm cơ quan đầu não quốc gia không thể nối được với mạng vi tính phòng thủ chung toàn liên bang, cũng như nhiều cơ quan thiết yếu khác thuộc Chính phủ Mỹ không phải khi nào cũng liên lạc được bình thường với nhau…

QUANG PHÚ (Theo U.S New and World Reports)

Trị chứng hôi miệng

Hoàng bá – ảnh: Lê Hân

Hôi miệng làm cho bản thân người bị hôi miệng cảm thấy khó chịu, thiếu tự tin khi giao tiếp. Người xung quanh khi tiếp xúc trực tiếp cũng cảm thấy khó chịu, thường chỉ phản ứng ngầm là quay mặt đi nơi khác hoặc lảng tránh, ít ai góp ý trực tiếp. Nguyên nhân của chứng hôi miệng rất nhiều, như: sâu răng, viêm lợi, viêm họng, viêm mũi họng, viêm amiđan hốc, viêm dạ dày, viêm thực quản, đánh răng không kỹ để thức ăn tồn đọng ở kẽ răng…


ảnh: absolutvision

Dĩ nhiên muốn điều trị cơ bản thì phải loại bỏ những nguyên nhân gây ra chứng hôi miệng đó. Hoàng bá là một vị thuốc giúp ta khắc phục tạm thời được điều này. Cách dùng rất đơn giản: hằng ngày, lấy vài lát hoàng bá (chừng 3-5gr), nấu sôi trong 100ml nước khoảng 5-10 phút, làm nước súc miệng; dùng khoảng 4-5 lần/ngày. Nếu không có điều kiện đun nấu, bạn cũng có thể nhai 1-2 lát nhỏ vài lần trong ngày cũng được. Để tăng hiệu quả nên đánh răng trước khi dùng hoàng bá. Ngoài tác dụng chống hôi miệng, hoàng bá còn có tác dụng trị sâu răng, viêm nha chu, viêm họng và viêm ruột… Vì vậy, khi súc họng (ngửa mặt lên trời khi súc) hoặc nhai hoàng bá, nếu lỡ  nuốt phải nước cũng không sao.Hoàng bá là một vị thuốc được dùng nhiều trong đông y. Ở bất kỳ cửa hàng đông dược hay phòng chẩn trị y học nào cũng có. Chỉ cần 10 ngàn đồng, bạn có thể dùng cả tháng.

Bảo Trân

(Theo Thanh Niên).

Ăn chuối, ít gặp… bác sĩ!

Ăn chuối để cải thiện sức khỏe – ảnh: AFP

Đúng vậy, quả chuối chứa 3 loại đường tự nhiên gồm sucrose, fructose và glucose kết hợp với chất xơ giúp cung cấp năng lượng lâu dài… Ngoài việc cung cấp năng lượng, chuối còn có nhiều công dụng trị bệnh khác:

* Trầm cảm

Theo một cuộc nghiên cứu do Hiệp hội sức khỏe tinh thần quốc gia (MIND) ở Anh, những ai buồn chán sẽ cảm thấy dễ chịu hơn sau khi ăn chuối. Nguyên do là chuối chứa nhiều tryptophan, một loại protein mà cơ thể chuyển hóa thành serotonin đem lại cảm giác thư thái, cải thiện thể trạng và giúp bạn cảm thấy vui vẻ hơn.

* Đau bụng hành kinh

Nên ăn chuối thay cho các viên thuốc giảm đau. Vitamin B6 có trong quả chuối giúp điều chỉnh lượng đường glucose trong máu, vốn có thể tác động đến thể trạng của bạn.

* Bệnh thiếu máu

Là nguồn phong phú chất sắt nên chuối có thể kích thích việc sản sinh ra chất haemoglobin trong máu, giúp ngừa tình trạng thiếu máu.

* Cải thiện trí não

Hai trăm học sinh tại một trường học ở Anh đã vượt qua các kỳ thi của họ nhờ việc ăn chuối vào buổi sáng, giờ giải lao và buổi trưa để tăng cường trí não. Quả chuối có thể hỗ trợ việc học bằng cách giúp học sinh luôn tỉnh táo.

* Giã rượu

Một trong những cách nhanh nhất để giã rượu là làm sữa khuấy chuối kết hợp với mật ong. Chuối giúp làm êm dạ dày và với sự trợ sức của mật ong sẽ giúp phục hồi lại lượng đường trong máu bị mất, trong khi sữa có tác dụng tái tạo lại nước cho cơ thể.

* Ốm nghén

Ăn chuối giữa các bữa ăn giúp duy trì lượng đường trong máu cao và tránh nôn ọe.

* Trị vết muỗi cắn

Trước khi dùng kem bôi vết côn trùng cắn, thử dùng bề mặt trong của vỏ chuối cọ xát lên vùng bị muỗi cắn. Nhiều người nhận thấy cách này giúp giảm vết sưng phồng và tấy ngứa.

* Thần kinh

Chuối chứa nhiều vitamin B nên giúp làm dịu hệ thần kinh.

* Kiểm soát thân nhiệt

Nhiều quốc gia xem quả chuối là loại quả “hạ nhiệt” giúp giảm nhiệt độ cơ thể cũng như giải tỏa các cơn nóng giận ở các thai phụ.

* Hút thuốc lá

Chuối có thể giúp cho những người tìm cách từ bỏ thói quen hút thuốc lá của mình không thấy khó chịu. Các vitamin B6, B12, kali và magiê giúp cơ thể tránh các ảnh hưởng của việc thiếu nicotine.

* Giảm stress

Kali là một loại khoáng chất cần thiết giúp điều chỉnh nhịp tim, cung cấp ô-xy lên não và cân bằng lượng nước trong cơ thể. Khi chúng ta bị stress, tỷ lệ trao đổi chất tăng lên vì thế làm giảm lượng kali trong cơ thể. Tuy nhiên, tình trạng này có thể khắc phục được nhờ việc nhâm nhi những quả chuối vốn giàu kali này.

* Đột quỵ

Theo một cuộc nghiên cứu được đăng trên Tập san Y tế New England, ăn chuối như là một phần không thể thiếu của chế độ ăn thường ngày sẽ giúp giảm khoảng 40% nguy cơ tử vong do đột quỵ.

Không còn nghi ngờ gì, quả chuối thật sự là một phương thuốc tự nhiên chữa trị được nhiều chứng bệnh. Khi so sánh một quả chuối với một quả táo thì quả chuối chứa lượng protein nhiều hơn gấp 4 lần quả táo, carbohydrate gấp 2, phốt pho gấp 3, vitamin A và chất sắt gấp 5 lần và các vitamin và khoáng chất khác gấp 2 lần.

Châu Yên

(Theo Thanh Niên).

Bạn muốn thành một người nói chuyện có duyên?

Bạn muốn thành một người nói chuyện có duyên không? Dễ lắm


Mới rồi, sau một tiệc rượu, chủ nhà mời tôi đánh bài. Tôi không biết chơi mà bà ngồi bên cạnh tôi cũng vậy. Chúng tôi nói chuyện với nhau.

Bà ấy biết rằng hồi trước tôi có việc phải ở bên châu Âu năm năm.
Bà nói: ‘Ông Carnegie, tôi ước ao được ông tả cho tôi nghe những thắng cảnh bên đó’.

Khi chúng tôi lại ngồi trên một chiếc ghế dài, bà ta cho hay rằng mới ở châu Phi về với chồng bà. Tôi nói: ‘Châu Phi có nhiều cái thú lắm. Tôi vẫn mong mỏi từ lâu được dịp qua đó, mà chỉ đi một lần tới Alger rồi trở về. Tôi ở Alger được đúng hai mươi bốn giờ đồng hồ… ở bên đó, ông bà có săn thú rừng không?… Có? Ông bà thiệt gặp may tôi muốn được như ông bà lắm. Xin bà kể cho tôi nghe’.
Bà ta diễn thuyết trong bốn mươi lăm phút, không nhớ gì tới những thắng cảnh bên Âu nữa. Bà chỉ muốn gặp được người chăm chú nghe bà, để bà có cái vui được dịp nói tới bà và những kỷ niệm của bà.

Bà đó kỳ dị không? Thưa không! Vô số người cũng như bà. Tất cả chúng ta đều muốn diễn thuyết khi có người chăm chú nghe ta.
Trong một bữa cơm tối, nhà một người bạn làm nghề xuất bản, tôi được gặp một nhà thực vật học có danh. Đó là lần đầu tiên trong đời tôi được gặp một nhà thực vật học và ông ấy nói chuyện nghe muốn mê. Tôi xích lại gần ông, nghe ông diễn giải về các loài cây cỏ và những chi tiết lạ lùng về một cây rất tầm thường là khoai tây… Ông khuyên tôi nhiều điều rất quý về cách giữ gìn khu vườn nhỏ của tôi.

Trong bữa tiệc đó, có mười hai ông khách nữa mà tôi như không biết có ai hết: tôi phạm hết thảy những điều mà thường thức về xã giao để nghe trong mấy giờ đồng hồ nhà thực vật học của tôi.
Tới nửa đêm tôi xin phép ra về. Sau này có người cho hay rằng, tôi vừa ra khỏi phòng, nhà thông thái đó quay lại nói với ông chủ nhà, khen tôi thế này, thế khác và cho rằng câu chuyện tôi rất hứng thú và tôi là một người ăn nói rất có duyên.

Tôi mà nói chuyện có duyên ư? Nhưng hôm đó tôi có thốt ra nửa lời nào đâu?

Giả thử tôi có nói, thì câu chuyện đã quay ra một vấn đề khác rồi; vì về khoa thảo mộc học, tôi hoàn toàn không biết chút chi hết. Tôi chỉ mê mẩn nghe thôi. Vì những điều ông giảng giải khích thích tôi nhiều lắm. Ông ấy thấy rõ như vậy và điều đó làm cho ông vui là lẽ tự nhiên. Chăm chú nghe một người khác, khác gì nhiệt liệt khen họ. Một văn sĩ nói: ‘Say mê nghe lời nói của một người, tức là tôn kính người đó, mà rất ít người không cảm động trước sự tôn kính đó’. Hôm ấy tôi không những chỉ say mê nghe mà thôi, còn tỏ với ông ấy một tấm lòng quý mến và ngưỡng mộ chân thành nữa. Tôi nói với ông rằng ông đã chỉ bảo với tôi rất nhiều, và tôi nghe nói mà mê. Đó là sự thực. Tôi lại nói rằng: nếu được lang thang trong một cánh đồng với ông thì thú vô cùng. Cái đó cũng là sự thực nữa.
Tôi ngỏ ý muốn được tái ngộ ông và thiệt tình tôi bây giờ rất muốn được gặp ông lần nữa.

Đó, chỉ vì vậy mà ông khen tôi là nói chuyện khéo, sự thiệt tôi chỉ là một thính giả kiểu mẫu và biết cổ vũ ông nói thôi.

Làm sao cho khách hàng có thiện cảm với ta, vui vẻ nghe ta, tin ta và theo ý ta? Theo giáo sư C.W.Eliot thì không khó chi hết. Trước hết ta phải đặc biệt chăm chú nghe họ. Không có chi làm đẹp lòng họ bằng.

Điều đó dễ hiểu quá mà! Không cần phải theo học bốn năm tại Harvard để tìm thấy chân lý đó. Vậy mà tôi thấy và các bạn cũng thấy có những nhà buôn không ngần ngại mướn những cửa hàng xa hoa, chú trọng về sự buôn hàng với cái giá hời nhất để có thể bán rẻ, mà vẫn lời, cửa hàng họ trưng bày lộng lẫy, họ tiêu hàng trăm đồng vào công cuộc quảng cáo, mà rồi rốt cuộc, mướn những người làm công không biết nghệ thuật ‘nghe’, ngắt lời khách hàng, cãi lại họ, làm mất lòng họ, như vậy có khác gì đuổi họ ra khỏi cửa hàng không?

Xin các bạn nghe chuyện ông J.C. Wooton, một người học trò của tôi. Ông ấy mua một bộ đồ tại một tiệm lớn nọ. Về nhà bận ít bữa ông bực mình vì thấy màu áo thôi ra và làm đen cổ áo sơ-mi.
Ông đem bộ đồ đó lại tiệm, phàn nàn với người làm công đã bán bộ đồ đó cho ông. Cũng không phải để phàn nàn nữa, mà để giảng giải cho người bán hàng nghe, nhưng người này chưa nghe, đã ngắt ngay lời: ‘Chúng tôi đã bán cả ngàn bộ đồ thứ đó, mà chưa hề có ai kêu nài chi hết’.

Lời thì như vậy, nhưng giọng còn tệ hơn nữa. Giọng hung hăng như muốn bảo: ‘Chú nói dối, chú ơi! Tôi đi guốc trong bụng chú rồi!’.
Nghe thấy chúng tôi cãi cọ nhau, một người bán hàng khác chạy lại, chêm vào: Bộ đồ màu đen nào, lúc mới đầu cũng hơi thôi ra như vậy, không thể tránh được… Nhất là những bộ đồ giá đó. Tại nước nhuộm như vậy.’

‘Tôi giận sôi lên, ông Wooton nói, người bán hàng thứ nhất có ý cho tôi dối dá; người thứ nhì muốn chê tôi đã mua đồ xấu, rẻ tiền. Tôi nổi điên, muốn liệng bộ đồ vào đầu họ, thì thình lình, người chủ gian hàng tới. Người này thiệt thạo nghề, ông làm cho một khách hàng đương thịnh nộ hóa ra hài lòng.

Ông làm ra sao?

Trước hết: ông nghe câu chuyện của tôi từ đầu chí cuối, không nói nửa lời.

Sau: khi tôi ngừng nói, hai người bán hàng kia bày lý lẽ của họ ra thì ông bênh tôi mà bẻ lý lẽ của họ. Không những ông công nhận rằng quả áo ngoài đã thôi và làm đen cổ áo sơ-mi tôi mà ông còn nhắc lại rằng bất kỳ món hàng nào bán ở tiệm đó, cũng phải làm cho khách hàng về nhà hoàn toàn vừa ý.

Sau hết: ông nhận rằng không biết tại sao nó lại thôi ra như vậy, và ông thẳng thắn nói với tôi: ‘Xin ông cho biết chúng tôi phải làm sao, và chúng tôi sẽ tuân lệnh ông’.

Năm phút trước, chắc là tôi đã la lên: ‘Ông giữ lấy bộ đồ quý hóa đó của ông’. Nhưng bây giờ tôi trả lời: tôi ‘chỉ muốn hỏi ý ông thôi; tôi muốn biết sau này nó còn thôi nữa không và làm sao cho nó khỏi thôi’.

Ông ta khuyên tôi mang về bận thử một tuần nữa. Nếu lúc đó không vừa lòng thì sẽ mang lại đổi. Và ông ta lấy làm ân hận vì sự đó lắm.

Tôi trở về, tươi tỉnh. Một tuần sau, áo đó quả nhiên hết thôi, và từ đó tôi hoàn toàn tín nhiệm cửa hàng đó’.

Người đó được làm chủ gian hàng có chi lạ? Hai người bán hàng kia sẽ làm phụ suốt đời… Có lẽ còn đổi họ xuống gói hay khuân đồ nữa là khác, để họ hết tiếp xúc với khách hàng.

Nhiều khi muốn cho một người mắc bệnh càu nhàu kinh niên nguôi cơn giận chỉ cần có một người kiên tâm hiểu họ, chịu làm thinh nghe họ, để họ mặc tình phùng mang, trợn mắt như con rắn hổ, phun ra ngoài cái nọc độc nó làm cho họ đương nghẹt thở.


Bạn muốn thành một người nói chuyện có duyên không? Dễ lắm


Vài năm trước, Công ty Điện thoại Nữu Ước có một thân chủ gắt gỏng, khó tính, trần gian có một. Y làm đủ tình, đủ tội, dọa đập máy điện thoại, không chịu trả tiền y thiếu, cho rằng công ty tính lộn, kêu nài trên mặt báo năm bảy phen, đầu đơn kiện ở tòa và tại ủy ban các công sở. Sau cùng, muốn cho yên chuyện, công ty phái một sứ giả khôn lanh nhất lại thăm con ‘ác là’ đó. Sứ giả bình tĩnh nghe ông tướng quạu đó, để mặc ông tuôn ra những lời cay đắng ra cho hả lòng, và chỉ gật đầu tán thành và ‘mô phật’.

Nghe ông ta tuôn ra trong ba giờ đồng hồ rồi về. Lần sau trở lại nghe ông ta tiếp tục cuộc diễn thuyết giông tố của ông. Bốn phen như vậy. Lần thứ tư, trước khi về nhà sứ giả đã nghiễm nhiên thành một Hội viên danh dự trong ‘Hội bảo trợ những người dùng điện thoại’, mà ông đó mới sáng lập. Hồi đó, cho mãi tới bây giờ cũng vẫn vỏn vẹn có hai người đó làm hội viên thôi.

Nhà sứ giả chỉ việc chú ý nghe và kết quả là ông tướng quạu đó thành ra thuần hậu, chịu trả hết số tiền đã thiếu công ty và chịu rút đơn không kiện công ty nữa. Thiệt chưa từng thấy ông ta dễ dãi với công ty như vậy bao giờ.

Tại sao vậy? Là vì ông kêu nài, phản kháng để tỏ cái quan trọng của ông ra, khi người thay mặt cho công ty chịu nhận thấy sự quan trọng đó, thì những nỗi bất bình tưởng tượng của ông tan như mây khói hết.

Nhiều năm trước, một khách hàng giận dữ bước vào văn phòng ông J.F. Detmer, nhà sáng tạo xưởng dệt Detmer lớn nhất thế giới.
Người đó rõ ràng thiếu của xí nghiệp Detmer mười lăm mỹ kim, viết thư đòi nhiều lần mà không chịu trả, hôm đó đi xe lửa từ nhà lại hãng, nói không những không trả tiền mà từ rày không thèm mua hàng ở hãng nữa.

Ông Detmer sẵn sàng kiên tâm nghe, khi người đó đã trút hết cơn lôi đình, bình tĩnh lại rồi, cơ hội thuận tiện, ông Detmer mới ôn tồn nói: ‘Tôi cám ơn ông đã lại tận đây để cho tôi hay những điều đó. Như vậy ông đã giúp tôi được một việc lớn lắm; vì nếu phòng kế toán của chúng tôi đã làm cho ông bất bình thì chắc có nhiều khách hàng dễ dãi cũng bất bình nữa. Và điều đó chúng tôi tất nhiên là muốn tránh. Xin ông tin tôi, ông nóng lại phân trần với tôi một, thì tôi nóng muốn biết những nỗi bất bình của ông tới hai kia’.
‘Ông ta chắc là tuyệt nhiên không ngờ tôi trả lời như vậy – ông Detmer kể lại. – Tôi tưởng ông ấy hơi cụt hứng vì ông ta từ xa lại cốt ý là để ‘xài’ tôi cho hả… Thế mà đáng lẽ gây với ông ấy, tôi lại cám ơn ông! Tôi hứa với ông xóa nó đi vì ‘một người ngăn nắp như ông, tính toán mỗi một cuốn sổ tất là ít lẫn lộn hơn các viên kế toán của tôi phải tính toán sổ của cả ngàn khách hàng’.

‘Tôi lại thêm rằng, tôi hiểu lòng ông ấy lắm và ở địa vị ông ta, có lẽ cũng hành động như ông. Rồi tôi lại giới thiệu với ông ấy vài nhà bán len khác vì ông ấy không muốn mua giúp tôi nữa’.

‘Hồi trước, mỗi lần ông ấy ra tỉnh tôi thường mời ông dùng bữa trưa với tôi. Lần này tôi cũng mời, ông ta bất đắc dĩ nhận lời… Nhưng tới chiều, khi cùng với tôi trở lại phòng giấy của tôi, ông đặt mua cho tôi một số hàng lớn nhất từ trước đến giờ. Ông về nhà bình tĩnh hơn và muốn tỏ ra công bằng với chúng tôi, cũng như chúng tôi đã công bằng với ông, ông lục giấy tờ của ông ra, kiếm thấy toa hàng đã thất lạc và gởi trả chúng tôi mười lăm mỹ kim với vài lời xin lỗi.
‘Sau này, khi con trai ông ta sinh; ông lấy tên Detmer của tôi đặt tên đệm cho con ông và ông còn là bạn thân và khách hàng của chúng tôi cho tới khi ông từ trần hai mươi hai năm sau’.

Đã lâu rồi, một cậu bé Hòa Lan tới di trú nước Mỹ. Cha mẹ cậu nghèo lắm. Tan giờ học, cậu phải kiếm tiền bằng cách lau cửa kính một tiệm bánh mì và lượm những cục than vụn mà những xe chở than để rớt trên đường. Tên cậu là Edward Bok. Suốt thiếu thời, cậu đi học cả thảy có sáu năm. Vậy mà sau thành một trong những nhà xuất bản tạp chí lớn nhất ở châu Mỹ. Chuyện đời cậu dài lắm. Nhưng nguyên nhân kết quả đó là cậu thi hành những quy tắc dạy trong chương này.

Cậu thôi học từ hồi mười ba tuổi, phải làm công cho một công ty nọ. Nhưng vẫn quyết chí học, học một mình. Cậu nhịn ăn bữa trưa và để dành tiền giấy xe điện cho tới khi mua được một cuốn tự điển tả công nghiệp các danh nhân nước Mỹ. Và cậu nảy ra một ý rất mới. Sau khi đọc tiểu sử các danh nhân hiện đại, cậu viết thư cho nhiều vị yêu cầu họ cho biết thêm những chi tiết thuộc hồi thơ ấu mà tự điển không ghi chép. Vì cậu tỏ ra ‘biết nghe’ cho nên được các danh nhân đó kể chuyện mình cho cậu. Hồi đại tướng J.A.Garfield ứng cử Tổng thống, cậu viết thư hỏi có phải hồi thiếu thời đại tướng đã làm nghề kéo ghe trên kinh để độ nhật không? Và Garfield trả lời cậu… Cậu lại viết thư hỏi đại tướng Grant xin cho biết những chi tiết trong một trận mà đại tướng cầm quân. Grant vẽ cho cậu một bản đồ rồi mời cậu (lúc đó cậu mới mười bốn tuổi rưỡi) lại nhà dùng cơm và nói chuyện.

Nhờ khéo kích thích những người đó, tả lại những thành công của họ – một vấn đề mà bất cứ danh nhân hay thường nhân ai cũng ưa nói tới mà không chán – cho nên cậu bé xuất thân hèn hạ đó không bao lâu được giao thiệp với một số lớn danh nhân nước Mỹ và được nhiều vị tiếp đãi như khách quý. Sự giao thiệp đó nung đúc cho cậu một đức tự tin quý báu, một hoài bão và một hy vọng cao xa, xoay chuyển hẳn cả cuộc đời cậu. Và tôi nhắc lại, được vậy chỉ nhờ cậu thi hành những quy tắc mà chúng ta đương nêu ra đây.

Isaac Marcosson, nhà quán quân về môn phỏng vấn các danh nhân, nói rằng phần đông phỏng vấn viên không thành công chỉ vì quá chăm chú tới những câu vấn thành ra không chú ý nghe những câu đáp… Nhiều danh nhân nói với Marcosson rằng họ ưa gặp một người biết nghe hơn là một người biết nói chuyện. Tai hại thay! Khả năng biết nghe đó hình như lại là khả năng hiếm thấy nhất.

Không phải chỉ các danh nhân mới thích được người ta nghe mình nói đâu; về phương diện đó, thường nhân cũng như họ. Một văn sĩ đã nói: ‘Nhiều người mời lương y tới chỉ để kể lể tâm sự thôi‘.

Trong những ngày đen tối nhất của cuộc Nam Bắc chiến tranh, Lincoln viết thư mời một ông bạn cũ ở xứ Illinois tới Washington để bàn về vài vấn đề. Ông bạn tới Bạch Cung và Lincoln nói với ông trong mấy tiếng đồng hồ về tờ bố cáo ông tính công bố để thủ tiêu chế độ nô lệ. Lincoln ôn lại tất cả những lý lẽ bênh vực đạo luật đó và những lý lẽ chống đạo luật đó; ông đọc lại hết cả những bức thư và bài báo nói về vấn đề đó, trong ấy có nhiều bài thống trách ông sao chưa phế trừ chế độ nô lệ, lại có nhiều bài khác chỉ trích ông, vì ông muốn hủy bỏ chế độ đó.

Sau khi diễn thuyết một hồi lâu, Lincoln bắt tay ông bạn già, chúc ông ta bình an và mời ông trở về Illinois, chẳng hỏi ý kiến ông ta một chút chi hết. Lincoln đã nói để trút những nỗi suy nghĩ nó đè nặng trong lòng ông, như vậy để cho óc ông được sáng suốt. Ông bạn già kể lại: ‘Khi ông Lincoln nói xong rồi, ông ấy bình tĩnh hơn’.
Lincoln không cần một người khuyên bảo, ông chỉ muốn có một bạn thân nghe ông nói và hiểu ông để ông trút tâm sự của ông thôi.
Hết thảy chúng ta chẳng như vậy ư? Và ông khách hàng bực tức, người làm công bất bình, ông bạn mất lòng… đều cần kiếm người để than thở.

Nếu các bạn muốn người ta trốn bạn, chế giễu lén bạn hay khinh ghét bạn thì bạn làm như vầy: đừng bao giờ nghe người khác nói hết; bạn cứ nói hoài về bạn thôi. Trong khi người khác nói, bạn nẩy ra một ý gì chăng, thì đừng đợi người ta nói hết câu. Đợi mà làm gì? Câu chuyện người ta kể đâu có thú vị hay ho bằng câu chuyện bạn sắp kể ra? Tại sao mất thì giờ nghe chuyện con gà con kê đó? Mạnh bạo đi, cắt ngang câu người ta nói đi.

Bạn có quen ai hành động như vậy không? Riêng tôi, tôi đã thấy… Thực tai hại. Chịu không nổi họ! Họ đầy tự phụ, say mê về cái quan trọng của họ! Nực cười nhất là một số trong những kẻ đó lại được mọi người coi thuộc giới thượng lưu! Kẻ nào chỉ nói về mình thì chỉ nghĩ tới mình thôi. Và ‘kẻ nào chỉ nghĩ tới mình thôi, nhất định là một kẻ thiếu giáo dục’. Ông Nicholas Murray Putler, giám đốc trường Đại học Columbia nói vầy: ‘Dù kẻ đó học hành tới bực nào nữa thì cũng vẫn là thiếu giáo dục.’

Vậy nếu bạn muốn người ta coi là nói chuyện có duyên thì bạn phải biết cách nghe. Nên nghe lời khuyên tài tình sau này của một người đàn bà: ‘Muốn được người chú ý tới, trước hết phải biết chú ý tới người‘. Bạn nên đặt những câu vấn mà ai cũng say mê đáp: tức như những câu hỏi về đời tư hay đời công của họ, những thanh công của họ.

Nên nhớ rằng người nói chuyện với ta quan tâm tới những thị dục, những vấn đề của họ trăm phần thì chỉ quan tâm đến ta, đến nỗi thắc mắc của ta một phần thôi. Bệnh nhức răng giày vò người đó hơn là cảnh đói kém làm chết cả triệu dân Trung Quốc. Một cái nhọt tại cổ người đó làm cho người đó lo lắng hơn bốn chục nạn động đất ở Châu Phi. Lần sau, có nói chuyện với ai, xin bạn nhớ tới điều đó.

Vậy muốn cho người mến, bạn theo quy tắc thứ tư sau này:

Biết chăm chú nghe; và khuyến khích người khác nói tới họ’
Dale Carnegie.

Ông Ban Ki-moon muốn trừng phạt các quốc gia sử dụng binh lính trẻ em

Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc kêu gọi Hội đồng Bảo an sử dụng các biện pháp trừng phạt các nhóm vũ trang và các quốc gia sử dụng trẻ em phục vụ trong quân đội trong một báo cáo ngày hôm qua.
Sử dụng bính lính trẻ em trong các cuộc xung đột đang diễn ra tại các nước châu Phi và châu Á từ Cộng hòa Dân chủ Công-gô, U-gan-đa cho đến Mi-an-ma, Sri-lan-ka được ông nêu ra trong báo cáo trên.
Ông nói thêm, chịu trách nhiệm trong việc này là các nhóm vũ trang nỗi dậy nhưng cũng bao gồm các lực lượng quân đội tại các quốc gia như Sát, Xu-đăng, như vậy là có tội với việc giết hại và lạm dụng tình dục trẻ em.
Hội đồng Bảo an nên xem xét các biện pháp trừng phạt đối với hành động này bao gồm: cấm vận vũ trang, kinh tế, cấm đi lại đối với những người lãnh đạo.
Các hành động chống lại trẻ em trong các cuộc xung đột có thể đưa ra tòa án quốc tế-ICC.
Quỹ nhi đồng LHQ thống kê năm ngoái trên toàn thế giới có khoảng 250 000 trẻ em là binh sĩ, tuy nhiên theo nhiều chuyên gia con số này quá mở hồ và khẳng định không thể xác định được.
Trong báo cáo của mình ông Ban cũng nói rằng đã có nhiều quyết định được đưa ra nhưng không có sự trừng phạt nào đối với hành động chống lại trẻ em, bao gồm các biện pháp trừng phạt đối với lãnh đạo phiến quân Công-gô Thomas Lubanga Dyilo với tội cưỡng bức trẻ em.
Tòa án cũng đã ra lệnh bắt 5 thành viên lãnh đạo của nhóm quân đội vũ trang U-gan-đa trong việc sử dụng trẻ em trong các cuộc xung đột.
(Caolang lược dịch từ Reuters)

Không theo quy tắc là tự rước lấy thất bại

Không theo quy tắc sau này tức là tự rước lấy thất bại

Năm 1898, Joe Farley chết một cách bất ngờ, để lại vợ góa và ba con côi với vài trăm đồng bạc vốn.

Đứa lớn nhất tên Jim, mười tuổi, phải giúp việc trong một lò gạch: đẩy xe cát, đổ cát vào khuôn, phơi gạch. Không có thì giờ học, nhưng có một thiên tài trời cho riêng dân ái Nhĩ Lan là bẩm sinh đã biết nghệ thuật làm cho người khác thương mình. Lớn lên, ông làm chính trị, tập nhớ tên họ và vẻ mặt của người khác, mà lần lần trí nhớ đó trở nên kỳ diệu.

Không hề tòng học một trường đại học nào hết, mà chưa đầy bốn mươi sáu tuổi, có tới bốn trường đại học cấp bằng danh dự cho ông, lại làm Hội trưởng ủy ban dân chủ quốc gia, và Tổng giám đốc sở Bưu điện.

Một lần được ông tiếp, tôi hỏi ông bí quyết của sự thành công đó. Ông đáp: ‘Nai lưng ra mà làm việc’. Tôi cãi: ‘Đừng nói chơi mà!’.
Ông hỏi lại tôi: ‘Vậy theo ông, bí quyết đó ở đâu?‘ Tôi đáp: ‘Người ta nói rằng ông có thể gọi tên được mười ngàn người’.
Ông cãi:

- Xin lỗi ông, ông lầm. Tôi có thể gọi tên năm chục ngàn người.
Nhờ trí nhớ kinh dị đó mà Jim Farley đi cổ động đắc lực cho ông Franklin D.Roosevelt được quốc dân bầu làm tổng thống.

Phương pháp ông giản dị lắm. Mỗi lần ông mới làm quen với ai, ông hỏi tên họ người đó và cách viết ra sao. Ông tìm cách biết rõ về gia đình, nghề nghiệp, màu sắc chính trị người đó, ghi nhớ lấy rồi, lần sau gặp lại, – dù là cách một năm đi nữa – ông cũng có thể vỗ vai người đó mà hỏi thăm về vợ, con, cả đến những cây trồng trong vườn người đó nữa!

Vậy thì tới đâu ông cũng có bạn thân, có gì là lạ?

Mấy tháng trước cuộc bầu cư Tổng thống Roosevelt, Jim Farley viết mỗi ngày cả trăm bức thư cho dân miền Bắc và miền Tây. Rồi ông đi trong mười chín ngày, khắp hai chục xứ, trên ba chục ngàn cây số. Đi xe lửa, xe ngựa, xe hơi, tàu thủy. Tới mỗi tỉnh, ông đãi các cử tri một bữa cơm trưa hay cơm tối, đem hết tâm can mà bày tỏ thiệt hơn với họ, đoạn chạy biến qua tỉnh khác.

Trở về nhà, ông viết ngay thư cho một người ông quen nhất trong đám cử tri ông mới đãi tiệc và xin cho biết tên những người đã có mặt hôm ông đãi tiệc cổ động.

Thành thử ông có một cuốn sổ ghi hàng ngàn tên những người ấy. Rồi mỗi cử tri đó đều ngạc nhiên nhận được của ông một bức thư đề: ‘Bạn Bill thân mến’. ‘Bạn Joe thân mến...’ và ký tên: ‘Jim’.
Jim Farley hiểu rằng hạng trung nhân đều thấy tên mình êm ái hơn hết thảy những tên khác. Nhớ được tên đó, đọc nó được một cách dễ dàng, tức là khen người đó một cách kín đáo và khôn khéo. Còn nếu quên hoặc viết sai tên đó tức là làm cho người ta khó chịu. Riêng tôi, tôi cho rằng người ta vô lễ với tôi, nếu trên bao thư gởi cho tôi người ta đã biên sai tên tôi.

Những kỹ thuật gia giúp việc ông Andrew Carnegie biết rõ giả kim thuật hơn ông nhiều. Vậy tại sao ông vua thép đó thành công? Là vì ông biết dẫn đạo người. Ngay từ hồi ít tuổi, ông đã có tài tổ chức, thấu tâm lý và chỉ huy. Mới mười tuổi ông thấy rằng ai cũng cho tên họ của mình là vô cùng quan trọng. Một hôm, ông bắt được một con thỏ cái mới sanh được một bầy thỏ con. Mà không có chi nuôi chúng hết. Ông bèn dụ tụi bạn trẻ như vầy: ‘Nếu chúng bây chịu kiếm lá cây nuôi bầy thỏ thì ta sẽ lấy tên mỗi đứa đặt tên cho một con thỏ’. Kết quả thần diệu. Và ông không bao giờ quên chuyện đó hết.

Nhiều năm sau, ông lại dùng thuật đó. Ông lấy tên của hội trưởng một công ty xe lửa để đặt tên cho một xưởng lớn của ông và nhờ vậy mà công ty xe lửa đó thành khách hàng mua đường rầy của ông!

Khi George Pullman và Carnegie tranh nhau độc quyền chế tạo những toa xe lửa có giường ngủ cho một công ty hỏa xa nọ, hai bên chỉ trích lẫn nhau, đua nhau hạ giá, thành thử đều không lời. Nhưng Carnegie nhớ ngay bài học con thỏ. Một hôm gặp Pullman, ông chào: ‘Chào ông Pullman, ông có tin rằng hai đứa mình đều điên hết không?’.

Ông kia hỏi lại: – Ông muốn nói chi?

Carnegie bèn đề xướng với Pullman hợp hai công ty lại làm một, dùng những lời quyến rũ vạch rõ những lợi chung của sự kết liên đó. Pullman chú ý nghe, nhưng chưa tin hẳn. Sau cùng, ông hỏi: ‘Công ty mới đó sẽ đặt tên chi?’. Carnegie tức khắc trả lời: ‘Thì đặt là Công ty Pullman tất nhiên rồi‘.

Hiệu quả tức thì. Nét mặt ông Pullman tươi hẳn lên, rồi ông mời: ‘Ông vô phòng tôi. Chúng ta sẽ bàn thêm…’.

Cuộc thương lượng đó đưa tới một khế ước, nó thay đổi cục diện kỹ nghệ thiết lộ ở Mỹ.

Cái tài nhớ được và kính trọng tên bạn, và tên những người cộng sự của ông, là một trong những bí quyết đã làm cho ông nổi danh; ông tự phụ rằng nhớ được tên họ một số đông thợ của ông, và khoe rằng ông còn đích thân chỉ huy xí nghiệp của ông ngày nào, thì không có những vụ làm reo khuấy rối sự yên ổn và cần mẫn trong các xưởng ông ngày đó.

Còn ông Paderewsky, một nhạc sĩ dương cầm nổi danh, rất được lòng người bếp da đen hầu ông trong toa xe lửa riêng của ông. Mỗi lần ông đi biểu diễn tài nghệ về, người bếp đó luôn luôn đích thân dâng ông một món ăn đêm mà ý nấu riêng để ông dùng. Tại sao y quý ông như vậy? Tại ông theo lễ phép châu Âu, với một giọng trịnh trọng gọi người đó bằng: ‘Ông Copper’, chớ không kêu xách mé theo kiểu Mỹ. Và ‘ông Copper’ thích được gọi như vậy lắm.
Loài người cho tên mình là vinh dự lắm – Cho nên tìm đủ cách truyền nó lại đời sau.

Như ông Barnum là người keo bẩn có tiếng, chỉ vì không con nối dõi, mà dám bỏ ra hai muôn rưỡi mỹ kim cho thằng cháu ngoại để y chịu theo họ ông.

Hai trăm năm trước, những người giàu có thường biếu tiền cho các văn sĩ để được thấy tên mình trên chỗ đề tặng của tác giả.

Những thư viện, viện bảo tàng sở dĩ sưu tập được nhiều sách, đồ quý là nhờ những phú gia biếu đồ hoặc quyên tiền và lưu danh lại sau này. Nhà thờ, đền chùa cũng vậy: những người bỏ những số tiền lớn ra đục tượng, tô chuông là những ai?

Sở dĩ chúng ta quên tên người, phần nhiều là vì chúng ta không chịu mất công, mất thì giờ chép lại, lặp lại cho nó in vào trong đầu óc chúng ta. Chúng ta tự bào chữa rằng như vậy lâu quá, mà công việc ta bề bộn quá.

Nhưng chắc không có ai bận việc bằng Tổng thống Franklin D.Roosevelt. Vậy mà ông có cách nhớ được cả tên, những người thợ máy ông đã gặp.

Hãng Chrysler đóng một chiếc xe hơi riêng cho Tổng thống F.D.Roosevelt, rồi cho kỹ sư W.F.Chamberlain với một người thợ máy lại Bạch Cung giao xe cho Tổng thống.

Ông Chamberlain tới, được Tổng thống tiếp đãi niềm nở vui vẻ lắm, gọi tên và chào hỏi, tỏ rằng được ông Chamberlain tới chỉ những bộ phận xe cho ông, ông hoan hỉ vô cùng. Ông ngắm nghía từng bộ phận nhỏ một, từ nệm ngồi cho tới cái khóa cửa, tới thùng xe, nhất là những chi tiết nào do ông Chamberlain sáng tạo cho tiện lợi, thì ông cứ muốn ghi nhớ lấy và chỉ cho bà Tổng thống, cho nữ Bộ trưởng lao động Perkins và cô thư ký riêng của ông. Rồi ông khen không ngớt miệng: ‘Thiệt tuyệt; chỉ cần ấn cái nút là xe chạy, chẳng khó nhọc chút chi hết. Đẹp quá… tôi muốn có thì giờ tháo bộ máy ra xem xét nó chạy ra sao’.

Khi ông Chamberlain chỉ cho ông xong rồi, Tổng thống quay lại nói: ‘Ông Chamberlain, Hội đồng Ngân hàng liên bang đang đợi tôi từ nửa giờ rồi; xin kiếu ông, tôi phải đi mới được…’

Lúc ông Chamberlain tới, có giới thiệu cho Tổng thống người thợ máy đi theo ông. Anh này nhút nhát, đứng xa xa, không nói nửa lời, mà tên của anh trước sau chỉ nhắc tới có một lần, vậy mà trước khi từ giã, Tổng thống đưa mắt kiếm anh ta, bắt tay anh ta, gọi tên anh ta và cám ơn đã mất công tới. Những lời đó không phải thốt ra như cái máy đâu, mà trái lại, có một giọng yêu mến thật thà.

Ít ngày sau, ông Chamberlain nhận được tấm hình với chữ ký của Tổng thống gởi biếu và mấy lời cám ơn một lần nữa. Thiệt không sao hiểu được ông kiếm đâu đủ thì giờ để làm công việc gây cảm tình đó.

Franklin D.Roosevelt biết rằng một trong những cách chắc chắn dễ dàng và công hiệu nhất để làm cho một người vui lòng và nhớ tên họ người ấy và tỏ cho họ thấy rằng họ quan trọng. Tổng thống Roosevelt còn làm như vậy, còn phần đông chúng ta, ra sao? Chúng ta khi được giới thiệu với một người lạ nói chuyện với họ một lát, rồi khi từ biệt không nhớ tên người ta để mà chào nữa.
Một nhà chính trị trước nhất phải nhớ tên những cử tri. Như vậy mới có danh và có quyền được. Nếu không thì bị thiên hạ bỏ quên. Trong thương mãi và xã giao, sự nhớ tên người cũng quan hệ không kém gì trong chính trị.

Hoàng đế Nã Phá Luân đệ tam khoe rằng dù việc nước bề bộn mà ông vẫn có thể nhớ tên mỗi người ông đã gặp. Phương pháp ông giản dị lắm. Khi ông nghe không rõ một tên nào, ông nói: ‘Xin lỗi, tôi chưa nghe rõ‘. Nếu tên hơi lạ, ông bảo người ta đánh vần cho ông nhớ. Rồi trong khi nói chuyện với người đó, ông tìm cách nói tên người đó vài ba lần và ráng ghi trong trí nhớ hình dáng, vẻ mặt người đó để khi thấy người thì liên tưởng ngay tới tên được.

Nếu là một nhân vật rất quan trọng, ông viết ngay tên nhân vật đó trên một miếng giấy, ngó kỹ nó, tập trung tư tưởng vào nó, cho nó khắc sâu trong óc. Như vậy, ông vừa dùng tai và mắt để nhớ. Tất cả những cái đó mất thì giờ lắm. Nhưng, Emerson nói, ‘lễ phép tức là phải chịu nhiều hy sinh nhỏ’.

Vậy, muốn gây thiện cảm, xin bạn để ý tới quy tắc thứ ba này:
‘Phải nhớ rằng tên một người đối với người đó là một âm thanh quan trọng và êm tai hơn hết thảy những âm thanh khác’.

Dale Carnegie.

Một cách dễ dàng để gây mỹ cảm lúc sơ kiến

Có nhiều bà muốn gây mỹ cảm, tiêu cả một gia tài để đắp vào thân những nhung cùng vóc, đeo vào mình những vàng cùng ngọc, mà hỡi ơi, quên hẳn cái bộ mặt của mình đi, bắt nó mang những nét chua ngoa và ích kỷ. Họ quên rằng đối với con người, nét mặt nụ cười quan trọng hơn tơ lụa khoác lên mình. (Nhân tiện, xin nhắc bạn, ví như bà nhà đòi may một cái áo nhung, thì xin chớ trả lời bà bằng câu đó nhé!).

Charles Schwab mà trên kia tôi đã kể chuyện, nói rằng nụ cười của ông ta đáng giá một triệu đồng. Số đó còn dưới sự thực, vì tất cả sự thành công lạ lùng của ông đều nhờ tâm tính ông, duyên kín của ông. Mà chính nụ cười quyến rũ của ông lại là khả năng khả ái nhất.

Một buổi tối, tôi được tiếp Maurice Chevalier, danh ca của thế giới. Thú thực là tôi thất vọng. Tôi không ngờ ông ủ rũ, lầm lỳ như vậy, khác hẳn với trí tôi tưởng tượng. Nhưng, bỗng nhiên, ông ta mỉm cười. Rõ ràng là một tia nắng xuyên qua mây mù. Không có nụ cười đó, Maurice Chevalier có lẽ còn đóng bàn ghế ở Paris như ông thân và anh em ông.

Mỉm cười với ai, tức như nói với người đó: ‘Tôi mến ông… Được gặp ông, tôi vui vẻ lắm… tôi sung sướng lắm…’.

Lẽ cố nhiên, nụ cười đó phải chân thật, tự đáy lòng phát ra mới quyến rũ, uỷ lại được người, còn thử nụ cười nhích mép nở ngoài môi, như do một bộ máy phát ra, không lừa được ai hết, chỉ làm cho người ta ghét thôi. Ông chỉ huy nhân viên một cửa hàng lớn ở Nữu Ước nói rằng ông ưa mướn một cô bán hàng học lực sơ đẳng mà nụ cười có duyên hơn là một cô cử nhân văn chương mà mặt lạnh như băng.

Tại sao ta thương loài chó? Tại chúng tung tăng, vui mừng đón rước ta, làm cho ta vui lòng khi thấy chúng.

Nếu không thấy hứng thú khi làm một việc thì không thể làm nên việc đó.

Đã từng có người bắt tay vào việc làm với một lòng hoan hỉ vô biên và vì vậy mà thành công. Nhưng lâu dần quen nghề, lòng hoan hỉ tiêu tan. Người đó chỉ còn làm đủ bổn phận thôi. Rồi tới chán nản. Rồi tới thất bại.

Trong xã giao cũng vậy. Phải hoan hỉ giao du với người thì mới mong người hứng thú giao du với mình.

Tôi đã khuyên cả ngàn thương gia như vầy:

Các ông luôn trong một tuần lễ, lúc nào cũng mỉm cười, gặp ai cũng mỉm cười… rồi các ông lại đây cho tôi biết kết quả ra sao’.

Thì đây kết quả như vầy:

Ông Steinhardt viết thư cho tôi kể:

Tôi có vợ 18 năm rồi, và trong thời gian đó ít khi tôi mỉm cười với nhà tôi. Từ sáng dậy tới khi đi làm, tôi ít khi nói với nhà tôi quá 12 tiếng. Trong châu thành Nữu ước này, tôi vào hạng người càu nhàu khó chịu nhất.

Nghe lời ông khuyên, tôi thí nghiệm ‘tuần lễ mỉm cười’ và ngay sáng hôm sau, khi rửa mặt, ngó trong gương, tôi tự nhủ phải bỏ cái bộ mặt đưa ma đó đi và quyết chí mỉm cười.

Khi ngồi bàn ăn sáng, tôi hớn hở chào nhà tôi. Nhà tôi ngạc nhiên vô cùng. Tôi giữ luôn như vậy trong hai tháng nay và đã tìm thấy được nhiều hạnh phúc trong gia đình tôi, hơn cả một năm vừa qua.
Bây giờ, gặp người coi thang máy, người giữ cửa, người bán giấy xe, gặp ai tôi cũng chào hoặc mỉm cười. Tôi không chỉ trích ai, chê ai hết, tôi khuyến khích và khen ngợi. Tôi không nói chuyện tôi cho người khác nghe nữa và ráng hiểu những nỗi lòng của người khác. Tôi biến thành một người mới, sung sướng, có lòng từ thiện và được mọi người thương. Hỏi còn có phần thưởng nào quý hơn nữa không?’.

Xin bạn nhớ rằng người viết bức thư đó làm trọng mãi (mua bán chứng khoán) ở thị trường chứng khoán Nữu Ước một nghề khó tới nỗi 100 người thì có 99 người thất bại.

Franklin Bettger, một biện sư khéo léo nhất trong nghề bảo hiểm nói với tôi: ‘Từ lâu, tôi đã hiểu rằng với nụ cười, đi đâu ta cũng được tiếp đón niềm nở hết. Cho nên trước khi vô nhà một thân chủ nào, tôi dừng lại một chút, nghĩ tới tất cả những sung sướng mà trời đã cho tôi. ý nghĩ đó tự nhiên làm nở nụ cười trên môi tôi… và tôi gõ cửa, tươi tỉnh như đóa hoa. Một phần lớn, nhờ có thuật đó mà tôi thành công’.

Là vì, giáo sư William James nói: ‘Hành động cơ hồ theo sau tư tưởng, nhưng sự thực thì cả hai đồng thời phát động. Dùng nghị lực để điều khiển hành động tức là điều khiển những tình cảm một cách gián tiếp…’.

Vậy khi mất cái vui rồi, muốn kiếm nó lại thì không cách nào bằng hành động như nó đã trở về với ta rồi… Hạnh phúc của ta không do ngoại vật đem tới mà tự tâm ta phát khởi. Hai người cùng ở một chỗ, cùng làm một nghề, gia sản ngang nhau, địa vị trong xã hội bằng nhau mà một người sướng, một người khổ, là vì đâu? Vì tâm trạng họ khác nhau. Trong số người làm công Trung Hoa, vất vả dưới ánh nắng thiêu người, đổi chén mồ hôi lấy 7 xu mỗi ngày, tôi đã từng thấy nhiều nét mặt vui tươi, như trên mặt các phú ông ở Nữu Ước.

Shakespeare (một thi hào nước Anh) nói: ‘Không có chi tốt mà cũng chẳng có chi xấu; xấu tốt đều do tưởng tượng mà ra cả’.
Abraham Lincoln nghiệm rằng phần nhiều người ta biết an phận mà được sung sướng. Ông nói có lý và tôi đã có dịp nhận rõ sự thực đó:

Một hôm tôi gặp ở Nữu Ước 30 đứa nhỏ tàn tật, chống gậy hay nạng, lết bết leo lên những bực của một nhà ga lớn. Có đứa phải cõng mới lên nổi. Tôi ngạc nhiên nghe chúng vui cười giòn giã. Một người coi sóc chúng giảng cho tôi: ‘Khi một em đó hiểu rằng mình sẽ tàn tật suốt đời, thì mới đầu như rụng rời, rồi bình tĩnh lại, cam lòng với định mạng, rồi cảm thấy sung sướng hơn những đứa trẻ mạnh’.

Tôi kính phục những em nhỏ đó. Các em đã cho tôi một bài học mà tôi sẽ ghi nhớ suốt đời.

Xin các bạn đọc – và nhớ thi hành, vì đọc suông không có kết quả – những lời khuyên chí lý sau này của giáo sư Elbert Hubbard:
‘Ở nhà ra, bạn ngửng đầu lên, đưa cằm ra; hít đầy phổi không khí và ánh sáng mặt trời; mỉm cười với mọi người và thân ái siết tay người quen biết. Đừng mất thì giờ nghĩ tới kẻ thù của bạn. Ráng vạch rõ trong đầu mục đích bạn muốn đạt và thẳng tiến tới lý tưởng đó. Một khi bạn đã định kỹ những hành vi đẹp đẽ, cao cả, bạn muốn làm thì tự nhiên ngày tháng sẽ đưa cơ hội thuận tiện tới lần lần cho bạn thực hiện được ý bạn…’

Bạn hãy in sâu vào óc hình dung nhân vật có tài năng, trung tin và hữu ích mà bạn muốn trở nên rồi mỗi giờ trôi qua, sức tưởng tượng sẽ lần lần thay đổi bạn cho tới khi thành hẳn nhân vật đó…

Mãnh lực của tư tưởng thật tối cao. Bạn hãy nuôi lấy một tâm trạng quân tử: can đảm, trung chính và vui vẻ. Vì tư tưởng đẹp thì hành vi rất đẹp. Đã ham muốn tất cả phải thành công và lời cầu nguyện nào chân thành cũng được chuẩn hứa. Lý tưởng ủ ấp trong lòng sẽ cấu tạo nên những hành vi hợp với lý tưởng. Ngửng đầu lên, bạn, vì nếu trong mỗi cái kén có một con bướm chưa nở, thì trong tâm mỗi ta có một điểm phật, chỉ đợi dịp phát huy.

Người Trung Hoa thiệt khôn. Câu phương ngôn này của họ phải được dán trong nón chúng ta đội: ‘Người nào không biết mỉm cười, đừng nên mở tiệm’. Và khi bàn tới điều kiện mở tiệm, ông Fletcher đã phát ra những tư tưởng này:

Giá trị của nụ cười:

1- Một nụ cười chẳng mất vốn, mà lợi thật nhiều.
2- Một nụ cười không làm nghèo người phát nó nhưng làm giàu người nhận nó.
3- Một nụ cười chỉ nở trong khoảnh khắc, nhưng có khi làm cho ta nhớ tới suốt đời.
4- Kẻ phú quí tới bực nào mà không có nó thì cũng vẫn còn nghèo; còn kẻ nghèo hèn tới đâu, mà sẵn có nó thì vẫn còn cái vốn vô tận.
5- Nụ cười gây hạnh phúc trong gia đình, nó là nguồn gốc những hảo ý trong thương nghiệp và là dấu hiệu của tình bè bạn.
6- Nó bồi dưỡng kẻ mệt nhọc, nó là hình ảnh bình minh cho kẻ ngã lòng, là nắng xuân cho kẻ buồn rầu, và là thuốc mầu nhiệm nhất của tạo hóa để chữa lo âu.
7- Nụ cười không thể mua được, không thể xin như khất thực được, không mượn được mà cũng không thể ăn cắp được. Vì ta khư khư giữ nó thì nó chẳng có giá trị gì, nhưng nếu ta dùng nó một cách hào phóng thì giá trị nó vô cùng.
8- Cho nên khi bạn gặp một người mệt nhọc, không còn sức tươi cười với bạn được, thì bạn hãy mỉm cười với người đó đi. Vì người nào không còn lấy một nụ cười để tặng kẻ khác, người đó cần nhận một nụ cười hơn ai hết…

Vậy nếu bạn muốn được thương mến, xin nhớ quy tắc thứ hai này:

‘Giữ nụ cười trên môi’
Dale Carnegie.

Anna thực hiện nhiệm vụ hòa giải Kenya, bạo lực lan rộng

Nguyên Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc kêu gọi các bên đối lập tại Kenya đưa ra các biện pháp chính thức để kết thúc những cuộc bạo loạn đẫm máu sau bầu cử.
Hơn 10 người bị giết hôm thứ Ba, đưa số người thiệt mạng trong các cuộc bạo loại sau chiến thắng tại cuộc bầu cử Tổng thống hôm 22 tháng 12 của ông Mwai Kibaki lên con số 850 người. Từ cuộc bạo loạn chính trị ban đầu đến nay nó đã trở thành xung đột sắc tộc.
Ông kêu gọi các bên đối lập đưa ra các biện pháp chính thức và tin rằng các giải pháp chính trị ngay tức thời sẽ giải quyết vấn đề trong vòng 4 tuần và chấm dứt cuộc khủng hoảng trong vòng 1 năm.
“Hôm nay hai nhà lành đạo đang ngồi với nhau và nói rằng các bạn hãy đón lấy cơ hội và làm mọi thứ để kết thúc các hành động đang đe dọa đến sự thịnh vượng và các vẻ đẹp của đất nước này”, ông Anna nói.
Kenya đã đánh mất hình ảnh của một quốc gia ổn định chính trị trong khu vực đầy bất ổn này và làm tổn hại nền kinh tế rực rỡ-lớn nhất đông Phi trong cuộc khủng hoảng này.
Ông Kibaki nói “chúng tôi đã đứng ở đây trong một thời gian ngắn, chúng tôi phải làm mọi thứ để đưa ra những quyết định để dành lại sự ổn định, khôi phục lại sự thống nhất mà chúng ta đã thừa hưởng từ khi độc lập”.
Trong khi đó ông Odinga người cho rằng ông Kibaki là người đã ăn cắp chiến thắng của ông nói biện pháp khẩn cấp là phải chỉ rõ “những nơi có nghi ngờ kết quả của cuộc bầu cử”.
Ông nói thêm “biện pháp này phải thực hiện và chứng minh cho người của chúng tôi thấy được sự an toàn, công bằng và an toàn khắp mọi nơi”, ông còn nói thêm những cuộc thương lượng phải được thực hiện giữa Phong trào Dân chủ Màu cam và đảng của ông Kibaki chứ không phải với chính phủ của ông ta.
(Caolang dịch từ Reuters).

Sáu cách gây thiện cảm

Để cho tới đâu cũng được tiếp đón niềm nở

Thiệt tình bạn cũng chẳng cần đọc sách này mới biết cách đắc nhân tâm. Bạn chỉ cần áp dụng những phương pháp thu phục cảm tình của một con vật mà cả hoàn cầu không ai không thương mến.

Lát nữa ra đường bạn sẽ gặp nó. Khi còn xa bạn chừng mười bước, nó đã bắt đầu ve vẩy đuôi rồi. Nếu bạn ngừng lại mà vuốt ve nó thì nó chồm lên và tỏ ra trăm vẻ yêu đương và bạn có thể biết chắc chắn rằng trong sự nồng nàn đó không có một mảy may vụ lợi vì nó chẳng cần bạn mua giúp một vài món hàng ế, mà cũng chẳng ham gì được kết duyên cùng bạn.

Có bao giờ bạn ngừng lại một phút mà suy nghĩ rằng trên vũ trụ này, chỉ có con chó là không cần làm việc mà cũng sống một cách ung dung không? Ta nuôi gà, là vì gà cho ta trứng: ta nuôi bò, là vì bò cho ta sữa; mà ta nuôi con hoàng yến cũng vì tiếng hót của nó. Nhưng ta nuôi chó chỉ vì cái lý độc nhất là nó cho ta cái êm đềm của tình thương.

Trong những kỷ niệm êm đềm nhất của tuổi thơ, tôi còn nhớ đến con Cún của tôi, một con chó nhỏ, lông vàng, đuôi cụt mà cha tôi mua cho tôi có năm cắc. Cún chưa hề đọc một trang sách tâm lý nào hết. Nó không cần đọc. Giáo sư William James, giáo sư Harry A. Overstreet, không ngài nào dạy được cho nó một chút nghệ thuật làm đẹp lòng người. Nhưng nó có phương pháp hoàn toàn để làm mọi người yêu nó: là chính nó, nó yêu mọi người. Lòng yêu đó tự nhiên và chân thành tới nỗi tôi không thể không mến nó được.
Các bạn muốn gây thiện cảm không? Hãy làm như con Cún: Quên mình và thương người.

Con Cún hiểu rằng nếu sốt sắng qua tâm tới người, thì chỉ trong hai tháng sẽ có nhiều bạn thân hơn là hai năm kiếm đủ cách làm cho người ta phải quan tâm tới mình. Tôi phải nhắc lại câu đó:
Nếu các bạn sốt sắng thành thật quan tâm tới người khác thì chỉ trong hai tháng sẽ có nhiều bạn thân hơn là hai năm gắng công bắt người khác quan tâm tới các bạn.

Vậy mà biết bao người một đời lầm lẫn không chừa, không biết định luật đó. Họ nhất định muốn người khác phải chú ý tới họ. Công dã tràng… Thiên hạ không nghĩ tới bạn đâu. Họ nghĩ tới họ, sáng, chiều, và tối.

Công ty Điện thoại ở Nữu Ước mới điều tra xem trong khi đàm thoại tiếng nào được dùng nhiều nhất. Các bạn chắc đã đoán được… Đó là tiếng ‘Tôi’. Trong 500 câu chuyện thì người ta dùng nó tới 3.900 lần. ‘Tôi’, ‘Tôi’, ‘Tôi’…

Khi bạn coi tấm hình trong đó có bạn chụp chung với những người khác, thì người thứ nhất mà bạn ngó là ai?

Nếu bạn tin rằng mọi người đều chú ý tới bạn, thì xin bạn trả lời tôi câu này: ‘Nếu bạn chẳng may chiều nay từ trần thì sẽ có bao nhiêu người đi tiễn bạn tới huyệt?’

Tại sao người khác quan tâm tới bạn trong khi bạn không quan tâm tới người ta trước? Xin bạn cầm cây viết chì và trả lời câu hỏi đó trong hàng bỏ trắng dưới này.

Nếu chúng ta chỉ gắng sức kích động người khác để cho họ chú ý tới ta thì không bao giờ có bạn chân thành hết. Đó không phải là cách gây được tình tri kỷ.

Alfred Adler, triết gia trứ danh, viết một cuốn sách rất hay đề là ‘Chân nghĩa của cuộc đời’, trong đó ông nói: ! ‘Kẻ nào không quan tâm tới người khác, chẳng những sẽ gặp nhiều sự khó khăn nhất trong đời, mà còn là người có hại nhất cho xã hội. Hết thảy những kẻ thất bại đều thuộc hạng người đó’. Các bạn có thể đọc hàng tá những sách về tâm lý mà không kiếm được một lời vừa đúng vừa nhiều nghĩa như câu đó. Tôi rất ghét nói đi nói lại. Nhưng lời tuyên bố của ông Adler quan trọng tới nỗi tôi phải chép nó lại lần nữa:

‘Kẻ nào không quan tâm tới người khác, chẳng những sẽ gặp nhiều sự khó khăn nhất trong đời, mà còn là người có hại nhất cho xã hội. Hết thảy những kẻ thất bại đều thuộc hạng người đó’.

Đời sống của Hoàng đế Nã Phá Luân, chứng minh lời nói đó. Khi ly dị Hoàng hậu Joséphine, vì cớ bà này không thể cho ông người kế tự, ông than thở cùng bà trước khi chia tay: ‘Sự phú quí vinh hoa của tôi, trần gian chưa từng thấy. Vậy mà cho đến giờ này đây, bà là người độc nhất trên đời, tôi có thể tin cậy được’.

Nã Phá Luân thì tin như vậy. Nhưng ai đã từng đọc sử đều buồn mà nhận thấy rằng lòng tin đó quá đáng.

Ông Giám đốc tờ báo Collier’S nói: ‘Muốn cho độc giả thích những truyện ngắn của bạn thì bạn phải yêu độc giả đã, phải chú ý tới họ’. Chân lý đó đúng khi bạn viết tiểu thuyết cho độc giả coi. Nó còn ba lần đúng hơn nữa, khi bạn trực tiếp nói chuyện với người khác.

Howard Thurston, ông vua ảo thuật, trong 40 năm trời, đem tài bịt mắt thiên hạ làm cho cả thế giới ngạc nhiên và thán phục; kiếm được gần hai triệu đồng; một hôm thú với tôi rằng hồi ông nhỏ, đã phải xa cha mẹ đi lang thang, ăn xin nhà này tới nhà khác, và nhờ ngó những quảng cáo hai bên đường xe lửa mà biết đọc. Về nghề ảo thuật, thiếu gì người biết nhiều hơn ông, nhưng ông có hai đức tính mà người khác không có:

Thứ nhất: thấu rõ tâm lý loài người và khi lên sân khấu, ông có sức quyến rũ và gây hứng. Mỗi cử chỉ của ông, mỗi lần ông chuyển giọng nói, mỗi nét cau mày là cả một công trình luyện tập. Mà hết thảy công trình đó chỉ có mục đích làm cho khán giả say mê và thì giờ chóng qua.

Thứ nhì: ông thành thật chú ý tới khán giả. Những nhà ảo thuật khác ở trên sân khấu ngó xuống trừng trừng, như có vẻ nói: ‘Tụi này toàn đồ mắt thịt. Ta sẽ bịp chúng dễ như chơi’. Phương pháp của Thurston khác hẳn. Mỗi lần sắp ra sân khấu, ông tự nói: ‘Ta mang ơn những người tới đây coi ta diễn trò. Nhờ họ, ta sống được phong lưu. Vậy ta phải hết sức trỗ tài cho họ vừa lòng’. Rồi ông vừa nhủ: ‘Tôi yêu khán giả của tôi. Tôi yêu khán giả của tôi’, vừa tiến ra ngoài sân khấu. Bạn cho là ‘lố bịch’, là vô lý ư? Cái đó là quyền của bạn. Nhưng chính đó là nguyên nhân sự thành công của một trong những nhà ảo thuật danh tiếng nhất từ xưa tới nay.
Tổng thống Théodore Roosevelt thu được nhân tâm một cách lạ lùng cũng nhờ bí quyết đó. Cho đến người ở của ông cũng sùng bái ông nữa. Người da đen làm bồi phòng cho ông, viết một cuốn sách nói về đời tư ông, trong đó có câu chuyện lý thú này:
Một hôm, nhà tôi hỏi Tổng thống về loài chim đa đa mà nó chưa từng thấy bao giờ. Ngài tả tỉ mỉ loài chim đó cho nó nghe. ít lâu sau, có người kêu điện thoại nhà tôi chạy lại trả lời. Thì ra ngài Tổng thống kêu nó, cho nó hay rằng hiện có một con chim đa đa đậu trong sân cỏ, và nếu nó muốn coi thì ngó ra sẽ thấy. Chỉ những việc nhỏ mọn như vậy cũng đủ tả tính tình của Ngài và những việc đó, Ngài rất thường làm.

Mỗi khi Ngài đi dạo gần tới nhà riêng của chúng tôi, dù chúng tôi có đứng khuất thì cũng kêu chúng tôi và chào lớn tiếng’.

Một ông chủ như vậy, thì người làm công nào mà không yêu kính? Bất cứ ai mà không yêu kính?

Một bữa, ông tới Bạch Cung, phải khi Tổng thống Taft và Phu nhân đi vắng, ông kêu lên từng người đầy tớ cũ và nồng nàn hỏi thăm họ, cả đến những chị phụ bếp cũng được hân hạnh đó. Khi gặp chị phụ bếp Alice, ông hỏi chị còn làm bánh mì bằng bột bắp không. Chị ta đáp còn làm, nhưng chỉ có đầy tớ ăn, còn trên bàn chủ không ai dùng tới.

Ông cười lớn: ‘Tại các ngài không sành ăn. Khi nào gặp Ngài Tổng thống, tôi sẽ chê Ngài chỗ đó.’

Chị đó dâng ông một miếng bánh mì bột bắp. Ông vừa đi về phòng giấy vừa ăn, gặp người làm vườn nào, người phu nào, ông cũng kêu tên mà chào như hồi ông còn làm Tổng thống. Một người làm công già rưng rưng nước mắt nói rằng, ngày hôm đó là ngày sung sướng nhất của ông từ hai năm nay. Và đổi ngày đó lấy tấm giấy một trăm, y cũng không đổi.
Dale Carnegie.

Báo động một năm lạm phát cao!

 Năm 2007 lạm phát lên đến đỉnh điểm trong hàng chục năm qua. Mục tiêu đề ra cho năm 2008 là lạm phát phải thấp hơn tốc độ tăng trưởng GDP. Để đạt được mục tiêu này, việc theo dõi lạm phát trong tháng 1, tháng 2 – là những tháng mà nhu cầu cao và có tốc độ tăng cũng thường cao gấp nhiều lần các tháng khác trong năm – là hết sức cần thiết.

Theo công bố của Tổng cục Thống kê, giá tiêu dùng tháng 1.2008 đã tăng 2,38% so với tháng 12.2007 và tăng 14,11% so với tháng 1 cùng kỳ năm trước, trong đó tăng cao có các nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng như: hàng ăn và dịch vụ ăn uống tương ứng tăng 3,76% và 22,01% (lương thực tăng 3,35% và 17,75%; thực phẩm tăng 3,75% và 24,62%, ăn uống ngoài gia đình tăng 4,27% và 20,58%); nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 2,88% và 16,89%; đồ dùng và dịch vụ khác tăng 2,6% và 10,68%.

Từ tốc độ tăng giá tiêu dùng tháng 1, có thể rút ra một số nhận xét đáng lưu ý. Trước hết, giá tiêu dùng tháng 1.2008 đã tăng thấp hơn tốc độ tăng 2,91% của tháng 12 năm trước. Tuy nhiên, chưa thể chủ quan, thỏa mãn bởi hai lý do. Một mặt, do tháng 12 năm trước giá đã tăng quá cao (lên đến 2,91%); mà khi số gốc đã ở mức khá cao, thì dù tốc độ tăng có thấp hơn, nhưng mức tăng tuyệt đối cũng lớn hơn, số tiền thực tế mà người tiêu dùng chi ra càng nhiều hơn. Mặt khác, để chống lạm phát, Nhà nước đã phải tiếp tục áp dụng nhiều biện pháp kiềm chế việc tăng giá, thậm chí không tăng những loại hàng hóa, dịch vụ đã bị kiềm chế từ những năm trước.

Nhân đây cũng cần lưu ý, trên một số phương tiện thông tin đại chúng, một số chuyên gia đã không thấy được sự bức bách của việc kiềm chế lạm phát mà “kêu hộ” các ngân hàng thương mại đang có lãi lớn, thu nhập rất cao, về việc Nhà nước áp dụng biện pháp hạn chế tiền ra lưu thông, tăng cường hút tiền từ lưu thông về. “Kêu thay” cho một số nhà đầu tư chứng khoán đã có lợi lớn vào cuối năm 2006, đầu năm 2007, nay do tác động của nhiều yếu tố mà giá bị giảm, nhưng lại muốn Nhà nước phải bơm tiền vào thị trường này để “cứu” họ, để họ lại làm “mồi” cho các nhà tay chơi cáo già “làm thịt”, đã phất nhanh từ thị trường chứng khoán tiếp tục phất lên hơn nữa tại thị trường này hay chuyển sang thị trường khác hấp dẫn hơn.

Một nhận xét khác là tốc độ tăng giá tiêu dùng tháng 1 năm nay thuộc loại  khá cao so với tốc độ tăng giá của tháng 1 cùng  kỳ trong các năm trước (tháng 1 năm 2007 tăng 1,05%, năm 2006 tăng 1,2%, năm 2005 tăng 1,1%, năm 2004 tăng 1,1%, năm 2003 tăng 0,9%, năm 2002 tăng 1,1%, năm 2001 tăng 0,3%, năm 2000 tăng 0,4%…), tức là cao nhất tính từ năm 1996 đến nay. Điều này cảnh báo giá 2008 sẽ tăng khá cao. Một nhận xét quan trọng khác là tốc độ tăng giá so với cùng kỳ năm trước (con số này dùng để tính tốc độ tăng bình quân năm này so với năm trước mà năm ngoái đã gây nhiều tranh cãi bởi chênh lệch rất lớn so với tháng 12 năm này so với tháng 12 năm trước – kiểu như năm trước là 8,3% so với 12,63%) của tháng 1.2008 đã tăng tới 14,11%. Tốc độ tăng cao so với cùng  kỳ năm trước (tính theo năm) như thế này sẽ là tín hiệu đáng quan tâm: tốc độ tăng giá tính theo bình quân năm của năm 2008 này sẽ cao hơn tốc độ tăng giá tính theo cách tháng 12 năm nay so với tháng 12 năm trước – tức là ngược với năm 2007. Nó cũng báo hiệu tốc độ tăng giá bình quân năm nay so với bình quân năm trước sẽ cao hơn tốc độ tăng GDP! Đây là một cảnh báo đáng lưu ý, bởi nó cao hơn tốc độ tăng giá tiêu dùng (dự báo cao nhất cũng không vượt quá 9%, còn các dự báo khác cũng chỉ từ 7,5-8%) mà nhiều chuyên gia đã đưa ra tại cuộc Hội thảo về giá cả do Viện Nghiên cứu khoa học thị trường giá cả tổ chức vào cuối năm 2007.

Một nhận xét đáng lưu ý khác nữa là trong 10 nhóm hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng, thì những nhóm có liên quan trực tiếp đến nhu yếu phẩm và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi tiêu cho đời sống của người tiêu dùng đều tăng cao hơn các nhóm hàng hóa, dịch vụ khác. Người tiêu dùng có thu nhập thấp, người nghèo do có tỷ trọng tiêu dùng những mặt hàng thiết yếu trên cao gấp đôi nhóm người giàu, nên giá tiêu dùng tăng cao sẽ làm cho họ khó khăn và nếu giá nhu yếu phẩm tăng cao sẽ càng làm cho họ khó khăn gấp bội.

Ngoài tháng 1 và tháng 2 là tháng có Tết Nguyên đán – Tết cổ truyền của dân tộc, nếu giá hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng tăng cao sẽ tác động không tốt đến người tiêu dùng nói chung và những người có thu nhập thấp nói riêng. Đối với người giàu thì “no dồn” cả năm sẽ không bị ảnh hưởng nhiều, nhưng với người có thu nhập thấp thì do “đói góp” cả năm nên muốn có một cái Tết no đủ và rất mong có giá cả tăng thấp để vừa ăn Tết, vừa vui Tết. Đối với người gửi tiết kiệm, với một tốc độ tăng giá từ mấy tháng cuối năm 2007 đến nay thì lãi suất càng mang dấu âm (tháng 10 tăng 0,74%, tháng 11 tăng 1,23%, tháng 12 tăng 2,91%, tháng 1 tăng 2,38%, tính chung 4 tháng đã tăng tới 7,44%, gần bằng với lãi suất gửi tiết kiệm vào Ngân hàng Nhà nước với kỳ hạn cả năm). Cũng theo công bố của Tổng cục Thống kê, giá vàng tăng 5,07% so với tháng 12.2007 và tăng tới 35,33% so với tháng 1.2007; giá USD tương ứng giảm 0,26% và giảm 0,17%.

Ngọc Minh

(Theo Thanh Niên).