Làm gì khi xảy ra động đất?

*Ở trong nhà:

– Chui xuống gầm một chiếc bàn vững chắc, chờ cho đến khi mặt đất ngừng rung chuyển. Nếu ở gần bạn không có chiếc bàn nào, hãy dùng tay ôm lấy mặt, đầu và ngồi vào một góc nhà; Tránh xa cửa kính, gương, cửa ra vào và bất cứ vật gì có thể đổ; Nếu đang ở trên giường, hãy ở nguyên tại đó, bảo vệ đầu bằng một chiếc gối; Ở trong nhà cho đến khi mặt đất ngừng rung và khi bạn biết chắc rằng ra ngoài là an toàn; Không sử dụng thang máy.

* Ở ngoài trời:

– Không chạy vào trong nhà; Tránh xa các tòa nhà, cột đèn đường, dây điện; Ở nguyên ngoài trời cho đến khi mặt đất ngừng rung. Mối nguy cơ lớn nhất xuất phát từ chính cửa ra vào các tòa nhà và các bức tường bên ngoài. Mặt đất rung chuyển rất hiếm khi là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tử vong. Phần lớn thương vong do động đất xuất phát từ tường đổ, gương kính vỡ, các vật rơi xuống đất.

* Nếu đang đi xe:

– Ngừng xe ngay lập tức ở vị trí cho phép và ở lại trong xe (ôtô). Tránh đỗ xe ở dưới hoặc gần các tòa nhà, cây cối, các cây cầu bắc qua đường, đường dây điện; Di chuyển cẩn trọng sau khi mặt đất ngừng rung chuyển; Tránh các con đường, cầu, dốc bị động đất gây hư hại.

* Nếu bị mắc kẹt dưới đống đổ nát:

– Không bật diêm hay hộp quẹt; Không di chuyển hoặc làm tung bụi lên mù mịt; Che miệng bằng khăn tay hoặc một mảnh vải; Gõ vào một đường ống hoặc mảnh tường để nhân viên cứu hộ có thể xác định vị trí bạn bị mắc kẹt. Hô lớn chỉ là giải pháp cuối cùng.

HIẾU TRUNG (Theo Cơ quan Quản lý tình trạng khẩn cấp liên bang Mỹ)

Làm “sếp” ở công ty nhỏ hay làm “lính” ở công ty lớn?

Thông thường, chức vụ càng cao thu nhập càng nhiều. Tuy nhiên, có những trường hợp vị trí cao không hề tỉ lệ thuận với mức lương, đơn giản vì làm sếp ở công ty nhỏ lương thưởng chưa chắc đã bằng một “chú lính” ở công ty lớn. Bạn sẽ chọn gì giữa quyền lực và thu nhập?

Hẳn không ít người đã hơn một lần băn khoăn lựa chọn việc làm sếp ở công ty nhỏ hay làm “lính” ở công ty lớn. Bên cạnh quyền lực hay thu nhập, sự lựa chọn của bạn sẽ còn mang lại những giá trị thực tế khác.

“Sếp” của “Người tí hon”

Dù là sếp, lương cũng như các khoản trợ cấp khác của bạn ở công ty “tí hon” có thể sẽ thấp hơn nhân viên các công ty lớn do doanh thu và lợi nhuận thấp. Hơn nữa, một số doanh nghiệp nhỏ thường thiếu bề dày kinh nghiệm và cơ cấu chặt chẽ, điều này khó đảm bảo cho bạn một công việc ổn định. Cũng phải chấp nhận khả năng bạn có thể bị “kém thế” hơn sếp hoặc thậm chí, nhân viên ở những công ty lớn.

Tuy nhiên, theo một góc nhìn khác, khi làm việc cho các doanh nghiệp nhỏ, bạn sẽ đảm trách nhiều nhiệm vụ khác nhau, có cơ hội chứng tỏ năng lực bản thân. Khi làm sếp, bạn sẽ được chủ động giải quyết vấn đề lớn nhỏ của công ty và nắm trong tay quyền điều hành cả đội ngũ nhân viên (dù ít). Ngoài ra, bạn sẽ tích lũy được nhiều kỹ năng mới trong công việc, cũng như có môi trường phù hợp để rèn luyện phương pháp quản lý và khả năng lãnh đạo.

“Lính” của “Gã khổng lồ”

Tính ổn định, các khoản thu nhập tương đối tốt, cùng rất nhiều cơ hội để bạn chứng tỏ khả năng, phát triển sự nghiệp của mình – đấy là những ưu điểm khi bạn “đầu quân” cho một “gã khổng lồ” nào đấy. Bạn cũng sẽ học hỏi được rất nhiều về sự chuyên nghiệp trong cách tổ chức công việc ở một công ty lớn. Ngoài ra, là nhân viên của một công ty “hàng hiệu” kể cũng “oai”!

Tuy nhiên, mặt trái của sự “oai phong” chính là mức độ áp lực công việc khá cao. Quỹ thời gian nghỉ ngơi quý báu của bạn sẽ nhanh chóng bị rút gọn khi bạn “tối mắt tối mũi” quay vòng với lịch làm việc dày đặc, đó là chưa kể việc đôi lúc bạn còn phải đương đầu với sự cạnh tranh khá gay gắt từ đồng nghiệp.

Bạn sẽ chọn làm gì?

“Sếp” ở công ty nhỏ và “lính” ở công ty lớn, vị trí nào nào phù hợp với bạn nhất? Điều đó phụ thuộc vào tính cách, khả năng, sở thích và kinh nghiệm của bạn.

Nếu làm sếp, bạn sẽ có uy quyền hơn, nhưng đồng thời trách nhiệm cũng sẽ nặng nề hơn. “Làm sếp khó đấy, phải đâu chuyện đùa”, bởi những quyết định bạn đưa ra ảnh hưởng trực tiếp đến sự vận hành của công ty. Do đó, để trở thành người sếp giỏi, bạn cần phải có thực lực, kiến thức rộng, khả năng phân tích, đánh giá sắc bén và tầm nhìn xa.

Ngược lại, có thể hiện tại bạn chọn cách “ẩn mình” trong công ty lớn để thu thập kinh nghiệm cho nấc thang mới – trở thành sếp cho công ty của riêng bạn, hoặc củng cố khả năng lãnh đạo ở công ty nhỏ, rồi bất ngờ một ngày đẹp trời, bạn đứng vào vị trí chủ chốt tại một “gã khổng lồ” danh tiếng. Những bước đệm ấy là một phần rất quan trọng trong tiến trình sự nghiệp của bạn.
 
Điều quan trọng hơn cả không phải là chuyện làm sếp hay “lính” mà là chọn công việc phù hợp nhất và bạn thật sự đam mê để qua đó, bạn có thể phát huy hết “nội lực”. Một khi đã xác định rõ con đường của mình, bạn hẳn sẽ không còn vướng bận bởi nỗi băn khoăn chọn lựa giữa “lính” và sếp.

Con bạn có thiếu vitamin?

BS. Ngọc Tình

(Cập nhật: 22/11/2007)

Trẻ em trong quá trình phát triển, nhất là lúc dậy thì, có thể có những biểu hiện khác thường. Rất nhiều trường hợp có liên quan đến thiếu vitamin. Việc quan tâm để hiểu và giúp đỡ để trẻ có sự phát triển hoàn thiện cả về tinh thần và thể chất là điều các bậc cha mẹ cần lưu ý.

Khi thiếu vitamin A, trước hết là trẻ có những biểu hiện hành vi như không thiết gì ăn uống, người cồn cào nôn nóng không yên hoặc thèm ngủ suốt… khi thiếu nghiêm trọng, sẽ dẫn tới chứng bệnh mắt quáng gà. Khi thiếu vitamin B1, thời kỳ đầu trẻ có những biểu hiện như ăn uống giảm sút, tâm tư tình cảm không ổn định, tư tưởng không tập trung, trẻ nhỏ hay quấy khóc, hờn dỗi, hay nằm mộng, hay hoài nghi… Nếu thiếu nghiêm trọng sẽ sinh phù chân, co giật…, khi thiếu vitamin B trẻ thường xuất hiện khả năng hoạt động và sức chú ý giảm sút, bất an, dễ bị kích động, học tập có trở ngại, chậm lớn…, nếu bị thiếu nghiêm trọng, sẽ phát sinh viêm khóe mép (chốc mép), viêm lưỡi. Khi thiếu vitamin PP có thể làm cho trẻ bị bệnh da cóc (bark favus), cũng có thể sinh ra các triệu chứng như tai ù, bị ảo giác, sức nhớ giảm sút nhiều, người phiền muộn, luôn cảm thấy căng thẳng. Khi thiếu vitamin B6, trẻ xuất hiện các triệu chứng quấy khóc đêm, người luôn nôn nóng, sốt ruột, ngủ chập chờn, giấc ngủ không sâu, buồn nôn, nôn mửa, thậm chí bị chứng phong rút, bị động kinh. Khi thiếu vitamin B12, đầu tiên thấy trẻ biểu hiện các triệu chứng khác thường về mặt tinh thần, tâm tư tình cảm, tỏ ra đờ đẫn, ít khóc, ít cựa quậy và hoạt động, phản ứng rất chậm chạp, chỉ thích ngủ, chân tay cựa quậy quờ quạng một cách vô ý thức, đầu, thân mình và tay chân luôn lắc lư run rẩy, cuối cùng gây nên thiếu máu. Khi thiếu vitamin D, trẻ có những biểu hiện khác thường như mồ hôi ra nhiều, ngủ không tốt, sợ hãi nhút nhát về đêm, phát triển chậm, tinh thần đờ đẫn, hành động lạnh lùng… đồng thời có kèm theo hoặc rồi sẽ bị bệnh mềm xương.

Để đề phòng sự xuất hiện những hành vi khác thường, điều quan trọng bậc nhất là chú ý nuôi dưỡng con thật khoa học, không nên cho trẻ ăn thiên về một loại thức ăn nào đó mà chúng vẫn thích. Khi cần có thể bổ sung cho chúng ít vitamin. Tuy vậy vẫn cần có sự chỉ dẫn cụ thể của bác sĩ xem cần cho uống những loại vitamin gì, liều lượng bao nhiêu trong ngày. Ta nên nhớ rằng, vitamin không phải là loại chất dinh dưỡng càng dùng nhiều càng tốt. Nếu dùng quá liều cần thiết thì trái lại không những không có lợi mà sẽ còn bị trúng độc nữa.

Một số biểu hiện cơ thể thiếu vitamin:

Triệu chứng mệt mỏi, ăn không ngon, mờ mắt có thể là do thiếu vitamin. Bạn có thể căn cứ vào những triệu chứng của cơ thể để tìm nguồn bổ sung từ thực phẩm.

Thiếu vitamin A: Khi bạn bị nổi mụn trứng cá, tóc khô, mệt mỏi, mất ngủ, mờ mắt về ban đêm. Giảm ý thức về mùi vị, dễ bị viêm nhiễm.

Để khắc phục, nên bổ sung nguồn vitamin A trong các loại thực phẩm: dầu gan cá, gan, cà rốt, rau xanh đậm, trứng, sản phẩm từ sữa hay các loại trái cây có vỏ màu vàng.

Thiếu vitamin B1: Với triệu chứng không tiêu, tiêu chảy, tuần hoàn kém, lo lắng, nên dùng các loại thực phẩm giàu vitamin B1 như hạt ngũ cốc, lúa mì, yến mạch, thịt, gan, tim.

Thiếu vitamin B2: Dễ bị loét miệng, lở môi, mệt mỏi, tóc có màu và khô. Nên ăn các loại thực phẩm giàu vitamin B2 như rau xanh lá, sữa, gan, thận, trứng và cá.

Thiếu vitamin B6: Các biểu hiện rụng tóc, mụn trứng cá, mắt đỏ, mờ mắt, mệt mỏi, chậm ngủ, chậm lành vết thương. Các bạn có thể tìm nguồn B6 bổ sung từ thận, đậu nành, bắp cải, trứng, đậu phộng…

Thiếu vitamin B12: Các biểu hiện nhức đầu, ăn mất ngon, hơi thở ngắn, táo bón, sức tập trung kém, hay quên. Thực phẩm giàu vitamin B12 có trong gan, thịt bò, trứng, pho mát, sữa, thận.

Thiếu vitamin C: Nướu răng dễ bị chảy máu, trầm uất, tụ máu trên da, đau khớp, long răng, chậm lành vết thương. Có thể tìm nguồn vitamin bổ sung ở chanh, cam, cà chua, khoai tây, hoa cải.

Thiếu vitamin D: Cảm giác nóng ở họng, miệng, ra mồ hôi nhiều, tiêu chảy, mất ngủ, căng thẳng. Thực phẩm giàu vitamin D là dầu gan cá, cá thu, cá hồi, cá trích và các sản phẩm làm từ sữa.

Thiếu vitamin E: Biểu hiện qua phản xạ lệch lạc, tâm tính thất thường, mắt chuyển động thiếu nhịp nhàng, khô da, phồng nơi bàn chân. Vitamin E có thể tìm thấy trong lúa mì, dầu cải, lá cải xanh, đậu nành, ngũ cốc các loại.

Thiếu vitamin K: Biểu hiện chảy máu mũi, trục trặc trong việc đông máu ở vết thương, tiêu chảy. Các thực phẩm có thể bổ sung nguồn vitamin K là đậu nành, dầu gan cá, sữa chua, lòng đỏ trứng, lá cải xanh.

Để có giấc ngủ chất lượng cao

Ngủ đầy đủ không những “sạc điện” cho hoạt động ngày hôm sau mà còn đảm bảo cơ sở trọng yếu cho sức khỏe tâm lý và thân thể. Dứt khoát không được kéo dài thời gian làm việc mà giảm thiểu thời gian ngủ, đó là cách làm thiếu sáng suốt, được không đủ bù mất. Đó là cái giá mà sức khỏe phải trả.Ngủ đầy đủ không phải là chỉ hình thức ngủ đủ thời gian mà điều quan trọng là chất lượng cao hay thấp của giấc ngủ. Đương nhiên để nâng cao chất lượng  giấc ngủ, thì chắc chắn là không nên mất ngủ. Nhưng chỉ có giấc ngủ chất lượng cao mới có thể làm cho bạn nhanh chóng khôi phục được thể lực bị tiêu hao, và  ngày hôm sau mới có được nét mặt sáng sủa, thần thái rạng rỡ.

Nếu bạn tán thành những lời khuyên sau đây thì chắc chắn bạn sẽ có giấc ngủ vừa ý:

Trước khi đi  ngủ không nên tức giận: Diễn biến khác nhau của tâm lý sẽ có ảnh hưởng khác nhau đối với cơ thể: “Tức giận hại gan, mừng quá hại tim, nghĩ ngợi hại tỳ (lá lách), bi thương hại phổi, hoảng sợ hại thận”. Trước khi ngủ mà tức giận phát khùng, sẽ làm cho tim đập nhanh rối loạn, thở gấp, suy nghĩ lung tung, khó đi vào giấc ngủ.

Sau khi ăn no không nên ngủ ngay: Trước khi ngủ mà ăn quá no, dạ dày và ruột phải hoạt động tiêu hóa, dạ dày chứa đầy thức ăn sẽ luôn luôn kích thích lên đại não. Đại não bị kích thích thì người không thể ngủ được.

Trước khi ngủ, không nên uống trà hoặc cà phê: Trong trà và cà phê đều chứa chất caffein…, các chất này sẽ kích thích thần kinh trung khu, dễ dẫn đến hưng phấn tinh thần. Càng uống đặc càng khó ngủ.

Trước khi ngủ không nên vận động quá mạnh: Hoạt động mạnh trước khi ngủ sẽ khiến cho các tế bào thần kinh của đại não điều khiển sự hoạt động cơ có biểu hiện hưng phấn cực kỳ mạnh mẽ, loại hưng phấn này trong một thời gian ngắn không thể dịu xuống ngay được, làm cho khó ngủ. Vì vậy, trước khi ngủ phải hết sức lưu ý giữ cho thân thể được bình tĩnh. Tuy vậy vẫn có thể hoạt động nhẹ, như đi bộ chẳng hạn…

Không nên gối đầu quá cao: Gối đầu quá thấp, dễ tạo thành tình trạng “tuột gối”, máu dồn lên đại não quá nhiều, ngày hôm sau não bị trương, mí mắt sưng húp. Gối đầu quá cao thì hô hấp không thông suốt, dễ bị thở khò khè; nếu trường kỳ gối đầu cao sẽ dẫn đến mỏi gáy hoặc gù lưng.Về mặt sinh lý mà nói thì gối cao từ 8-12cm là vừa.

Không nên gối đầu tay khi ngủ: Dùng hai tay để gối đầu khi ngủ, vừa ảnh hưởng tuần hoàn máu, vừa tê mỏi tay, còn dễ bị áp lực của khoang bụng tăng cao, cứ kéo dài như vậy sẽ dẫn đến “viêm thực quản do trào ngược”.

Không nên trùm chăn kín mặt khi ngủ: Như vậy vừa khó thở, vừa phải hít trở lại thán khí do chính mình vừa thở ra, làm bất lợi cho sức khỏe.

Khi ngủ không nên thở bằng miệng: Khi ngủ ngậm miệng là phương pháp tốt nhất để bảo dưỡng năng lượng sống. Há mồm thở, không những dễ hít phải bụi, mà còn rất dễ làm cho khí quản, phổi, mạng sườn bị kích thích bởi không khí lạnh. Vì vậy, tốt nhất là thở bằng mũi, do đó không những lông mũi cản được một phần bụi, mà không khí qua khoang mũi còn được sưởi ấm, có lợi cho sức khỏe.

Không nên ngủ trước gió lùa: Trong trạng thái ngủ, năng lực thích ứng của cơ thể đối với ngoại cảnh là rất thấp, dễ bị nhiễm lạnh sinh bệnh. Vì vậy nơi ngủ phải tránh cửa gió lùa, giường ngủ phải kê cách xa cửa sổ, cửa đại một khoảng nhất định mới tốt.   

Vũ Quốc Huệ (Theo “Human,s weakness” , qua bản Hoa văn của Địch Văn Minh)

Ngày 23/11/2007

Hướng dẫn của Chính phủ về Hợp đồng lao động

Các hướng dẫn của Chính phủ về Hợp đồng lao độngĐây là các quy định, hướng dẫn của Chính phủ trong việc thực hiện Pháp luật lao động về Hợp đồng lao động.

Khái quát lịch sử Việt Nam

 Các cuộc khảo cổ gần đây đã chứng minh sự tồn tại của con người trên lãnh thổ Việt Nam từ thời Đồ đá cũ (300.000 -500.000 năm). Vào thời kỳ Đồ đá mới, các nền văn hoá Hoà Bình – Bắc Sơn (gần 10.000 năm tr­ước CN) đã chứng tỏ sự xuất hiện của nông nghiệp và chăn nuôi, có thể là cả nghệ thuật trồng lúa nước.

      Dân tộc Việt Nam đã đ­ược hình thành và ­bước đầu phát triển trên vùng châu thổ sông Hồng và sông Mã phía Bắc của Việt Nam ngày nay. Con người từ các vùng đồi núi xuống vùng đồng bằng, từ đời này sang đời khác đã khai hoá đất để trồng trọt. Họ đã tạo ra một hệ thống đê điều để chế ngự dòng sông Hồng gây nhiều lũ lụt hàng năm. Quá trình lao động không ngừng để chế ngự nước – chống lũ, lụt, bão, hạn hán, xây dựng đê điều, đào kênh phục vụ cho việc trồng lúa – đã tạo nên nền văn minh lúa nước và văn hoá làng xã.

      Vào thời đại Đồ đồng đã ra đời một nền văn minh thống nhất và độc đáo, đạt mức độ kỹ thuật và nghệ thuật cao, nền văn minh Đông Sơn rực rỡ. Các nghiên cứu nhân chủng, lịch sử và khảo cổ gần đây đã khẳng định sự tồn tại một thời kỳ các Vua Hùng khoảng 1000 năm trước Công nguyên trên ­Vương quốc Văn Lang, sau đó đổi tên là Âu Lạc. Đến thế kỷ thứ hai ­trước Công nguyên, Âu Lạc đã bị xâm chiếm và sát nhập vào đế chế phong kiến Hán hùng mạnh ở ­phương Bắc. Nhưng sự thống trị của phong kiến Trung Hoa kéo dài ­mười thế kỷ đã không bẻ gẫy được sức kháng cự của dân tộc và không đồng hoá được nền văn hoá Việt Nam.

      Vào thế kỷ thứ ­mười sau Công nguyên đất nước đã giành được độc lập vững chắc và xây dựng một Nhà nước độc lập mang tên Đại Việt. Đất nước đã trải qua nhiều triều đại vua chúa phong kiến mà quan trọng nhất là triều Lý (thế kỷ11 và 12), triều Trần (thế kỷ 13 và 14), triều Lê (thế kỷ 15, 16 và 17) với một nền hành chính tập quyền, một lực ­lượng quân đội mạnh, một nền kinh tế và văn hoá phát triển cao. Trong suốt thời kỳ này, Việt Nam phải liên tục đấu tranh chống lại các âm mư­u xâm lược của các đế chế phong kiến Trung Hoa và Mông Cổ. Các cuộc kháng chiến lâu dài và gian khổ chống quân xâm lược Tống (thế kỷ 11), Nguyên (thế kỷ 13), Minh (thế kỷ 15) đã giành những thắng lợi vang dội. Sau mỗi cuộc kháng chiến, Việt Nam trở nên mạnh hơn, các dân tộc đoàn kết hơn và đất nước bước vào một thời kỳ cường thịnh mới.

      Nền văn hoá Đông Sơn được bổ sung bởi ảnh ­hưởng của văn hoá Trung Hoa đã phát triển qua nhiều thế kỷ trong khuôn khổ một nhà nước độc lập. Phật giáo, Nho giáo, Khổng giáo thâm nhập vào Đại Việt mang theo nhiều yếu tố văn hoá quần chúng và nhiều hình thức đặc biệt. Tuy vậy, Việt Nam vẫn có ngôn ngữ riêng và một nền văn minh nông nghiệp phát triển khá cao.

      Đến thế kỷ 17 và 18, chế độ phong kiến Việt Nam suy yếu nghiêm trọng. Các cuộc khởi nghĩa nông dân liên tục diễn ra đã dẫn đến phong trào Tây Sơn (1771-1802). Tây Sơn đã tiêu diệt các chế độ vua chúa cát cứ, thống nhất đất nước, đánh đuổi quân xâm lược Thanh (Trung Quốc) đồng thời ban hành nhiều cải cách xã hội và văn hoá. Như­ng không lâu sau đó với sự giúp đỡ của ngoại bang, Nguyễn Ánh đã giành được quyền thống trị và lập nên triều đình nhà Nguyễn, triều đại phong kiến cuối cùng ở Việt Nam.

      Vào giữa thế kỷ 19 (1858), thực dân Pháp bắt đầu cuộc xâm chiếm Việt Nam. Triều đình nhà Nguyễn bất lực đã dần dần nhân nhượng quân xâm lược và từ năm 1884 Pháp thiết lập chế độ bảo hộ và thuộc địa trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam. Ngay từ những ngày đầu, các phong trào kháng chiến quần chúng d­ưới sự lãnh đạo của các sĩ phu yêu nước nổ ra ở khắp mọi nơi, nh­ưng cuối cùng đều thất bại. 

      Nguyễn Ái Quốc, sau đó trở thành Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã hoạt động ở nước ngoài để tìm con ­đường cứu nước. Người đã sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam vào ngày 3/2/1930. Dư­ới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, quần chúng nhân dân đã đứng lên đấu tranh chống thực dân Pháp và quân chiếm đóng Nhật, thực hiện cuộc Tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945 và thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ngày 2/9/1945. Nước Việt Nam non trẻ vừa mới ra đời lại phải ­đương đầu với các âm mưu xâm lược và can thiệp của Pháp và Mỹ, phải tiến hành cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc kéo dài suốt 30 năm sau đó. ­Trước hết, sự trở lại xâm lược của Pháp đã gây ra cuộc kháng chiến 9 năm (1945-1954) của Việt Nam, kết thúc bằng chiến thắng Điện Biên Phủ và Hiệp định Genève về Việt Nam năm 1954. Theo Hiệp định này, đất nước tạm thời bị chia làm hai vùng lãnh thổ miền Bắc và miền Nam lấy vĩ tuyến 17 làm giới tuyến và sẽ được thống nhất hai năm sau đó (1956) thông qua một cuộc tổng tuyển cử. Miền Bắc Việt Nam vào thời kỳ nay mang tên Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động với Thủ đô là Hà Nội. Miền Nam mang tên Việt Nam Cộng hoà v­ới sự quản lý của chính quyền thân Pháp, rồi thân Mỹ đặt tại Sài Gòn. Chính quyền Sài Gòn sử dụng mọi sức mạnh để ngăn chặn cuộc tổng tuyển cử, đàn áp và loại bỏ những người kháng chiến cũ, do vậy xuất hiện phong trào đấu tranh vì hoà bình, thống nhất đất nước. Chính quyền Sài Gòn đã không thể ngăn cản được nguyện vọng thống nhất đất nước của quần chúng, đặc biệt từ ngày Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập, ngày 20/12/1960.

      Để duy trì Chế độ Sài Gòn, Mỹ đã tăng cường viện trợ quân sự. Đặc biệt kể từ giữa thập kỷ 60 Mỹ đã gửi nửa triệu quân Mỹ và đồng minh đến miền Nam Việt Nam trực tiếp tham chiến, và từ 5/8/1964 bắt đầu ném bom miền Bắc Việt Nam. Nh­ưng nhân dân Việt Nam, theo lời dạy của Chủ Tịch Hồ Chí Minh “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, đã đứng vững và giành nhiều thắng lợi ở cả hai miền Nam và Bắc. Năm 1973, Washington buộc phải ký hiệp định Paris về lập lại hoà bình ở Việt Nam và rút toàn bộ quân đội Mỹ ra khỏi Việt Nam. Mùa xuân năm 1975, trên tinh thần đại đoàn kết dân tộc và được sự đồng tình của nhân dân yêu chuộng hòa bình, công lý và tiến bộ trên thế giới, các lực l­ượng vũ trang yêu nước Việt Nam đã thực hiện cuộc tổng tiến công đè bẹp Chính quyền Sài Gòn, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Ngày 25/4/1976, nước Việt nam Dân chủ Cộng hoà được đổi tên thành nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt nam với lãnh thổ bao gồm cả hai miền Nam và Bắc.  Năm 1977, Việt Nam trở thành thành viên của Liên Hợp Quốc.

      Sau nhiều năm chiến tranh kéo dài, đất nước bị tàn phá nặng nề. Từ năm 1975 đến 1986, Việt Nam phải đối phó với vô vàn khó khăn. Những hậu quả và tệ nạn xã hội do chiến tranh để lại, dòng người tị nạn, chiến tranh ở biên giới Tây Nam chống diệt chủng Khơme đỏ, chiến tranh ở biên giới phía Bắc, bao vây, cấm vận của Mỹ và các nước ph­ương Tây, thêm vào đó thiên tai liên tiếp xảy ra… đã đặt Việt Nam tr­ước những thử thách khắc nghiệt. Hơn nữa, những khó khăn càng trầm trọng do xuất phát từ các nguyên nhân chủ quan, nóng vội và duy ý chí muốn xây dựng lại đất nước nhanh chóng mà không tính đến những điều kiện cụ thể. Vào đầu những năm 80, khủng hoảng kinh tế – xã hội ở Việt Nam trở nên gay gắt, tỉ lệ lạm phát lên đến 774,7% vào năm 1986.

     Từ năm 1986, Việt Nam bắt đầu tiến hành công cuộc Đổi mới toàn diện nhằm vư­ợt qua khó khăn, đi vào vào con đ­ường phát triển và từng b­ước hội nhập khu vực và quốc tế. Đại hội VI của Đảng cộng sản Việt Nam tháng 12/1986 đã nghiêm khắc kiểm điểm sự lãnh đạo của mình, khẳng định những mặt làm được, phân tích những sai lầm khuyết điểm, đề ra đường lối Đổi mới toàn diện trong đó đổi mới kinh tế được đặt lên hàng đầu với chủ tr­ương phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị tr­ường có sự quản lý của nhà nước, theo định h­ướng XHCN, đi đôi với việc tăng cường cơ sở pháp lý, đổi mới tổ chức Đảng và Nhà nước. Nền kinh tế Việt Nam thực sự mở cửa, chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp dựa trên việc nhập khẩu và nhận viện trợ của nước ngoài sang cơ chế thị tr­ường, tự chủ về tài chính nhằm cân bằng ngân sách nhà nước và h­ướng tới xuất khẩu. Trước năm 1989 hàng năm Việt Nam đều phải nhập khẩu l­ương thực, có năm trên 1 triệu tấn. Từ năm 1989, Việt Nam đã bắt đầu xuất khẩu 1-1,5 triệu tấn gạo mỗi năm; lạm phát giảm dần (đến năm 1990 còn 67,4%). Đời sống của nhân dân được cải thiện, dân chủ trong xã hội được phát huy. Quốc phòng, an ninh được giữ vững. Quan hệ đối ngoại được mở rộng, đẩy lùi tình trạng bao vây, cô lập.

Tháng 6 năm 1991, Đại hội VII của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định lại quyết tâm tiếp tục chính sách Đổi mới của Việt Nam với mục tiêu vư­ợt qua khó khăn, thử thách, ổn định và phát triển kinh tế – xã hội, tăng cường ổn định chính trị, đẩy lùi tiêu cực và bất công xã hội, đư­a đất nước cơ bản ra khỏi tình trạng khủng hoảng. Đại hội cũng đề ra chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở đa dạng hoá và đa ph­ương hoá quan hệ với mục tiêu Việt Nam “muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển.”

Mặc dù bị tác động sâu sắc do việc Liên Xô, Đông Âu tan rã, các thị tr­ường truyền thống bị đảo lộn; tiếp tục bị bao vây cấm vận và phải đối phó với các âm mưu hoạt động gây mất ổn định chính trị và bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, Việt Nam đã từng b­ước khắc phục khó khăn, trở ngại, tiếp tục giành nhiều thắng lợi to lớn. Từ năm 1991-1995 nhịp độ tăng bình quân hàng năm về tổng sản phẩm trong nước (GDP) đạt 8,2%. Đến tháng 6/1996, đầu tư­ trực tiếp của nước ngoài đạt trên 30,5 tỷ USD. Lạm phát giảm từ mức 67,1% (1991) xuống còn 12,7% (1995) và 4,5% (1996). Đời sống vật chất của phần lớn nhân dân được cải thiện. Trình độ dân trí, mức h­ưởng thụ văn hoá của nhân dân được nâng lên. Sự nghiệp giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khoẻ, các hoạt động văn hoá nghệ thuật thể dục thể thao, thông tin đại chúng, công tác kế hoạch hoá gia đình và nhiều hoạt động xã hội khác có những mặt phát triển và tiến bộ. Chính trị ổn định, độc lập chủ quyền và môi trường hoà bình của Việt Nam được giữ vững, quốc phòng an ninh được củng cố tạo điều kiện thuận lợi cơ bản cho công cuộc Đổi mới. Hệ thống chính trị từ trung ­ương đến cơ sở được củng cố, bộ máy nhà nước pháp quyền được tiếp tục xây dựng và hoàn thiện. Chính sách đối ngoại độc lập tự chủ, đa ph­ương hoá và đa dạng hoá quan hệ của Việt Nam đã đạt được những kết quả tốt đẹp. Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 164 nước, có quan hệ buôn bán với trên 100 nước. Các công ty của hơn 50 nước và vùng lãnh thổ đã đầu tư trực tiếp vào Việt Nam.

      Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VIII, tháng 6/1996 đã đánh giá những thành tựu to lớn có ý nghĩa rất quan trọng trong 10 năm Đổi mới (1986-1996) và đề ra mục tiêu phát triển đến năm 2000 và 2020 là : đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá là xây dựng Việt Nam thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất-kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh. Từ nay đến năm 2020, ra sức phấn đấu đ­ể Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp.

      Văn minh Văn Lang – Âu lạc. Đây là Nhà nước đầu tiên ở Việt Nam trải qua 18 đời vua Hùng thế kỷ 3 tr­ước Công nguyên sát nhập người Âu Việt với Lạc Việt thành Âu Lạc do An D­ương V­ương đứng đầu rời đô về Cổ Loa thế kỷ 2 tr­ước công nguyên. Âu Lạc bị Triệu Đà xâm lược sau rơi vào tay nhà Hán, đất nước lâm vào cảnh 1000 năm Bắc thuộc.

II. 1000 năm đấu tranh chống Bắc thuộc

*40-42 Khởi nghĩa Hai Bà Tr­ưng chống quân Hán.


*428 Khởi nghĩa Bà Triệu chống quân Ngô.


* 542-544 Khởi nghĩa Lí Bí đánh đuổi quân L­ương, Lí Bí lên ngôi lấy hiệu Lý Nam Đế. Sau khi ông mất, Triệu Quang Phục lên lãnh đạo không x­ưng đế mà xư­ng Vư­ơng  – Triệu Việt V­ương.


* 687 Khởi nghĩa Lý T­ Tiên chống quân xâm l­ược nhà Đư­ờng.


* 776 Khởi nghĩa Mai Thúc Loan sau xư­ng là Mai Hắc Đế (Vua đen).

* 869 Khởi nghĩa D­ương Thanh chống quân Đ­ường.

*Sang thế kỷ 10 đất nước có nhiều sự thay đổi.


* 905 Khúc Thừa Du xư­ng là Tiết Độ Xứ sau đó là Khúc Hạo và Khúc Thừa Mỹ, 930 quân Nam Hán bắt Khúc Thừa Mỹ, Dương Đình Nghệ khôi phục quyền tự chủ và bị tuỳ t­ướng của ông là Kiều Công Tiền giết chết.


* 938 con rể Dư­ơng Đình Nghệ là Ngô Quyền giết Kiều Công Tiền và đánh bại quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng đã mở ra một kỷ nguyên mới độc lập-tự chủ và phát triển cho đất nước ta.

III. Từ 938 đến 1858.

*Sau chiến thắng Bạch Đằng 938 Ngô Quyền lên ngôi xư­ng là Ngô V­ương, sau Ngô Quyền mất con là Ngô Xư­ơng Văn lên và bị cậu là Dư­ơng Tam Kha cướp ngôi gây ra loạn 12 xứ quân.* 968 Xứ quân Đinh Bộ Lĩnh mạnh hơn đã thống trị đất nước và xư­ng là Đinh Tiên Hoàng đặt tên nước là Đại Cồ Việt.


* 979 – Hai cha con Đinh Bộ Lĩnh bị Đồ Thích giết. Đình Hoàn còn ít tuổi, Thái hậu D­ương Vân Nga chuyển long bào cho thập đại tư­ớng quân Lê Hoàn.


* 981 Quân Tống xâm l­ược nước ta bị Lê Hoàn đánh bại.


* 1009 Vua Lê cuối cùng Lê Ngoạ Triều ăn chơi xa đoạ bị chết, triều đình tôn Lý Công Uẩn làm vua lập ra nhà Lý.


* 1010 Lý Thái Tổ rời đô từ Hoa L­ư về Thăng Long đặt tên nước là Đại Việt.


* 1075-1077 Nhà Lý đánh bại quân Tống.


* 1026 – Lý Chiêu Hoàng nh­ường ngôi cho chồng là Trần Cảnh lập lên nhà Trần.


* 1258,1285,1288 – Nhà Trần liên tiếp đánh bại 3 cuộc xâm lược của giặc Nguyên – Mông.


* 1400- Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần đặt tên nước Đại Ngu. Quân Minh đánh bại nhà Hồ đặt ách thống trị.


* 1418-1427 – Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi, Lê Lợi lên làm vua. Cuối triều Lê vua Lê ăn chơi xa đoạ, đặc biệt là Lê Uy Mục, Lê T­ương Dực cho xây cửu Trùng Đài. Mặc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê lập lên nhà Mặc.


* Từ 1557 đến 1592 – Một bên là Nguyễn Kim với danh nghĩa phù Lê chống Mặc gây ra chiến tranh Nam-Bắc, triều kéo dài 50 năm. Sau Nam Bắc triều là chúa Nguyễn, chúa Trịnh lấy sông Gianh làm ranh giới đằng trong, đằng ngoài.


* 1771 Phong trào nông dân Tây Sơn bùng nổ d­ới sự lãnh đạo của 3 anh em nhà Nguyễn: Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ.


*1777 Đánh đổ tập đoàn họ Nguyễn ở phía Nam.


*1786 Diệt họ Trịnh ở phía Bắc, Nguyễn Huệ được vua Lê gả công chúa Ngọc Hân.


*1788 Lê Chiêu Thống chạy sang cầu viện nhà Thanh.


*1789 Quang Trung Nguyễn Huệ đánh bại 29 vạn quân Thanh xâm lược.


*1792 Quang Trung đột ngột từ trần.


* 1802- Nguyễn Ánh được sự giúp đỡ của Pháp đánh bại nhà Tây Sơn lập lên nhà Nguyễn lấy tên nước là Đại Nam, chuyển kinh đô vào Phú Xuân -Huế.

IV. Từ 1858 đến 1945.

* 1858- Quân Pháp cùng Tây Ban Nha nổ súng xâm lược nước ta tấn công và cửa biển Thuận An – Đà Nẵng. Pháp chuyển hướng tấn công 3 tỉnh miền Tây Nam Kỳ.


* 1862- Pháp chiếm thêm 1 tỉnh miền Tây Vĩnh Long. Vua Tự Đức sai 2 đại thần Phan Thanh Giản, Lâm Duy Điệp th­ương thuyết với Pháp ký Hiệp ­ước với Pháp nh­ường 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ cho Pháp.


* 1873- Pháp chiếm nốt 3 tỉnh miền Tây.


* 1873 – Pháp tấn công Bắc Kỳ, nhà Nguyễn ký Hiệp ­ước thứ 2 dân 3 tỉnh miền Tây.


* 1883- Pháp xâm lược Bắc Kỳ lần 2 buộc triều đình ký Hiệp ­ước Pháp – Măng.


* 1884- Pháp cùng triều đình ký Hiệp ­ước Pa-tơ-rốt, nhà Nguyễn dâng toàn bộ đất nước cho Pháp.
*1885-1913- Nhân dân chống Pháp xâm lược, phong trào Cần V­ương, Hoàng Hoa Thám, Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, Duy Tân.


* 1914-1918 – Chiến tranh thế giới thứ 1.

* 1919-1930 Sự phân hoá giai cấp và xã hội Việt Nam, quá trình thành lập Đảng.


* 3/2/1930 Tại Cửu Long H­ương cảng Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc với tư­ cách đại diện quốc tế cộng sản đứng ra thống nhất thành lập Đảng cộng sản Việt Nam.

* 1930 – 1945 Quá trình vận động Cách mạng Việt Nam dư­ới sự lãnh đạo của Đảng.
       30-31  Cao trào Cách mạng đỉnh cao Xô viết Nghệ tĩnh.

       32-35  Phong trào tạm lắng, đấu tranh khôi phục phong trào.      

       36-39  Cao trào dân chủ.       

       39-45  Cao trào dân tộc.

V. Giai đoạn :1945 đến 1975.

* 2/9/1945 Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.
* 9/1945 đến 12/1946 Năm đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.

*1946-1954 Tiến hành chiến tranh chống Pháp, đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên ngày 7/5/1954 và Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ ngày 21/7/1954.

* 1954-1975 Đất nước bị chia cắt 2 miền:


   

+ Miền Bắc:      

    – 1954 Tiếp thu, tiếp quản miền Bắc.      

    – 1955-1975 Hàn gắn vết thư­ơng chiến tranh.     

    – 1958-1960 Công cuộc cải tạo chủ nghĩa xã hội ở mìên Bắc.     

    – 9/1960  Nhiệm vụ cơ bản được hoàn thành.    

    – 1961-1965 Thực hiện kế hoạch 5 năm lần 1.    

    – 1964  Về cơ bản đã được hoàn thành.    

    – 1965-68 Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại miền bắc lần 1.    

    – 1968-73 Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc lần 2.    

    – 1973-75 miền Bắc tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội.


   + Miền Nam:    

    -1954-56 Đấu tranh đòi nhà cầm quyền thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ.    

    -1956-59 Miền Nam đấu tranh chống cuộc chiến tranh đơn ph­ương.    

    – 1960-64 Miền Nam đấu tranh chống cuộc chiến tranh đặc biệt.    

    – 1965-68 Miền Nam đấu tranh chống cuộc chiến tranh cục bộ.    

   – 1968-73 Miền Nam đấu tranh chống cuộc chiến tranh Việt Nam hoá chiến tranh.    

    – 1/1973   Hiệp định Pa-ri được ký kết.    

    – 1973-75 Chuẩn bị và làm nên đại thắng mùa xuân 30/4/1975. 

(Theo Cinet).

2010 World Cup qualifying draw

EUROPE DRAW

Group 1 Portugal, Sweden, Denmark, Hungary, Albania, Malta

Group 2 Greece, Israel, Switzerland, Moldova, Latvia, Luxembourg

Group 3 Czech Republic, Poland, NORTHERN IRELAND, Slovakia, Slovenia, San Marino

Group 4 Germany, Russia, Finland, WALES, Azerbaijan, Liechtenstein

Group 5 Spain, Turkey, Belgium, Bosnia-Herzegovina, Armenia, Estonia

Group 6 Croatia, ENGLAND, Ukraine, Belarus, Kazakhstan, Andorra

Group 7 France, Romania, Serbia, Lithuania, Austria, Faroe Islands

Group 8 Italy, Bulgaria, Republic of Ireland, Cyprus, Georgia, Montenegro

Group 9 Holland, SCOTLAND, Norway, FYR Macedonia, Iceland

 AFRICA DRAW

Group 1: Cameroon, Cape Verde Islands, Tanzania, Mauritius.
Group 2: Guinea, Zimbabwe, Namibia, Kenya.
Group 3: Angola, Benin, Uganda, Niger.
Group 4: Nigeria, South Africa, Equatorial Guinea, Sierra Leone.
Group 5: Ghana, Libya, Gabon, Lesotho.
Group 6: Liberia, Algeria, Senegal, Gambia.
Group 7: Ivory Coast, Mozambique, Botswana, Madagascar.
Group 8: Morocco, Rwanda, Ethiopia, Mauritania.
Group 9: Burkina Faso, Tunisia, Burundi, Seychelles.
Group 10: Mali, Congo, Sudan, Chad.
Group 11: Togo, Eritrea, Zambia, Swaziland.
Group 12: Egypt, DR Congo, Malawi, Djibouti.

%d bloggers like this: