Kinh nghiệm Thành – Đạt của Khổng Tử

I. Kinh-Nghiệm Thành-Đạt của Cuộc Đời Đức Khổng-Tử

Khổng-Tử đã kể lại các giai-đoạn thành-đạt của cuộc đời ngài như sau: “Ngô thập hữu ngũ nhi chí vu học, tam thập nhi lập, tứ thập nhi bất hoặc, ngũ thập nhi tri thiên-mệnh, lục thập nhi nhĩ thuận, và thất thập nhi tùng tâm sở dục bất du củ” (Ta tới mười lăm tuổi mới chuyên-chú vào việc học, ba mươi tuổi mới tự-lập, bốn mươi tuổi mới thấu-hiểu hết sự lý trong thiên-hạ, năm mươi tuổi mới biết mệnh trời, sáu mươi tuổi mới có kiến-thức và kinh-nghiệm hoàn-hảo để có thể phán-đoán ngay được mọi sự-lý và nhân-vật mà không thấy có điều gì chướng-ngại khi nghe được, và bảy mươi tuổi mới có thể nói hay làm những điều đúng theo ý-muốn của lòng mình mà không ra ngoài khuôn-khổ đạo-lý).
Trong lời phát-biểu trên, Đức Khổng-Tử có ý nói rằng con người tới một lứa tuổi nào đó mới có khả-năng nhận-thức và thực-hành những điều mà người chưa đạt đến lứa tuổi đó thì chưa nhận-thức và thực-hành được. Để giúp các bạn trẻ hiểu rõ trọn-vẹn ý-nghĩa lời phát-biểu của Khổng-Tử trên đây, chúng tôi xin bàn về từng phần của lời phát-biểu này.

1- Ngô Thập Hữu Ngũ Nhi Chí Vu Học

Trong câu “ngô thập hữu ngũ nhi chí vu học,” chúng tôi thấy có mấy chữ cần phải được giải-thích để giúp các bạn trẻ hiểu cho rõ. Chữ “hữu” có nghĩa là “thêm” (thập hữu ngũ: mười thêm năm, tức là 15), chữ “chí” có nghĩa là “để hết tâm ý,” và chữ “vu” có nghĩa là “đối vi” Cả câu “ngô thập hữu ngũ nhi chí vu học” có nghĩa là khi tới 15 tuổi, ta mới có thể tự-mình chuyên-tâm vào việc học. Có biết như thế, các bậc cha mẹ mới không buồn-phiền khi thấy các con mình mải chơi đùa và không chịu chuyên tâm học-hành trước khi chúng chưa tới lứa tuổi 15. Và cũng nhờ đó, các bậc cha mẹ mới đem hết kiên-nhẫn, kỹ-năng, và nghệ-thuật để chăm-nom săn-sóc cho các con mình ngay từ khi chúng còn nhỏ (trước 15 tuổi) hầu giúp chúng thành-công trong việc học.

2- Tam Thập Nhi Lập
“Tam thập nhi lập” có nghĩa là khi người ta tới 30 tuổi thì sức tự-lập mới có thể chắc-chắn và vững-vàng. Thực vậy, khi đạt tới 30 tuổi, con người có thể tự-lập và gây-dựng nên sự-nghiệp cho mình với điều-kiện là họ phải có chí tự-lập cũng như được cha mẹ săn-sóc và giáo-dục chu đáo. Chí tự-lập của con người giữ vai-trò quyết-định trong việc tự-ập. Trong thực-tế đã có nhiều người tự-lập từ trước lứa tuổi 30 và cũng có người không tự-lập được ở ngoài lứa tuổi 30. Đây là trường-hợp của những người có chí tư- lập hay không. Nếu không có chí tự-lập thì dù cha mẹ có săn-sóc và giáo-dục cũng vẫn không tự-lập được. Họ là những người ăn bám gia-đình và xã-hội.

3- Tứ Thập Nhi Bất Hoặc


“Tứ thập nhi bất hoặc” có nghĩa là khi người ta tới 40 tuổi mới có thể hiểu thấu mọi sự-lý trong thiên-hạ, phân biệt được việc phải hay trái cũng như hiểu được ai là người tốt hay xấu, phân biệt được những ai là người chân-chính yêu nước thương nòi  và biết được cái gì nên làm hay không. Không phải người nào ở cái tuổi 40 cũng được như vậy. Muốn đạt tới trình độ “nhi bất hoặc,” con người phải được giáo-dục kỹ-lưỡng và tự mình cố công học-hỏi chuyên-cần ngay từ khi còn nhỏ.

4- Ngũ Thập Nhi Tri Thiên-Mệnh

“Ngũ thập nhi tri thiên-mệnh” có nghĩa là khi người ta tới 50 tuổi mới có thể thông-suốt chân- lý của tạo-hoá, tức là hiểu được mệnh của trời. Không phải bất cứ ai tới 50 tuổi là đạt được trình-độ “tri thiện-mệnh” Muốn đạt được trình độ “tri thiên-mệnh,” con người cũng phải có căn-bản vững-vàng về giáo-dục, kiến-văn, và kinh-nghiệm sống.

5- Lục Thập Nhi Nhĩ-Thuận

“Lục thập nhi nhĩ-thuận” có nghĩa là khi người ta tới 60 tuổi thì mới đạt đến mức độ hoàn-hảo về mặt tri-hành, kiến-văn, và kinh-nghiệm về cuộc sống. Nhờ đó, người ta có thể nhận-xét và phán- đoán được ngay tức-khắc và chính-xác về các sự-kiện và nhân-vật trong thiên-hạ. Khi nhìn hay nghe thấy điều gì, người ta không những không cảm thấy chướng-ngại mà còn hiểu thấu ngay mọi lẽ. Không phải tự-nhiên mà ta đạt được trình-độ “nhi nhĩ thuận” Muốn đạt được trình-độ này, con người cũng phải có căn-bản giáo-dục, đạo-đức, kiến-văn, và kinh-nghiệm từng-trải về sự đời.

6- Thất Thập Nhi Tùng Tâm Sở Dục Bất Du Củ

“Thất thập nhi tùng tâm sở dục bất du củ” có nghĩa là tới 70 tuổi, con người sẽ đạt đến tình- trạng rất hoàn-hảo về cách xử-sự và xử-thế. Nhờ đó mà mỗi khi người ta định nói điều gì hay làm việc gì thì tự-nhiên thể-hiện đúng với chủ tâm của lòng mình, muốn sao được vậy, và không bao giờ vượt ra khỏi khuôn-khổ của đạo-lý hay lẽ thường. Đây là trình-độ tuyệt-hảo của con người ở vào tuổi từ 70 trở lên nếu trước đó họ được giáo-dục đúng cách, tự tìm tòi học-hỏi, có kiến-văn quảng-bác, có tu-tâm dưỡng-tánh, và đã từng-trải cũng như rút được ưu khuyết-điểm trong các kinh-nghiệm về nỗi ê-chề đớn-đau của cuộc đời.

Tuy rằng Khổng-Tử đã trình bày về những lứa tuổi cuộc đời cụ-thể của ngài như đã nói ở trên, chúng ta phải hiểu rằng đây cũng là ý của ngài muốn nói về từng giai-đoạn tác-thành-của các lứa tuổi cuộc đời con người. Muốn đạt tới khả-năng nhận-thức và thực-hành ở mỗi lứa tuổi như đã đề-cập ở trên, người ta phải được giáo-dục và tự mình chuyên-tâm vào việc học-hỏi liên-tục ngay từ khi còn trẻ, tức là từ trước khi tới lứa tuổi 15 và tiếp-tục cho tới 70 tuổi, để trau-giồi kiến-văn, đạo-đức, và rút-tỉa kinh-nghiệm trong cuộc sống hàng ngày.

Mỗi lứa tuổi 15, 30, 40, 50, 60, và 70 thể-hiện kết-quả của việc giáo-dục trong gia-đình và học-đường cùng kiến-văn có được qua sự học-hỏi ở trường đời. Nếu không được giáo-dục đúng cách và nếu không biết tự tu tâm dưỡng tánh, tự trau-giồi kiến-văn cho hoàn-hảo, và tự rút tỉa kinh-nghiệm trường đời thì con người giống như “ông bình vôi,” càng sống lâu càng ngu và càng làm hại dân hại nước dù rằng có bằng cấp cao đến thế nào đi nữa.

Có tuổi là một việc, nếu không được giáo-dục đúng cách và không tự trau-giồi kiến-văn cùng kinh-nghiệm sống thì dù tới 30 tuổi, 40 tuổi, 50 tuổi, 60 tuổi, hay 70 tuổi đi nữa, người ta cũng không có sức tự-lập, không hiểu hết sự lý, không biết được mệnh trời, không thông-suốt mọi lẽ, và không thể làm chủ được hành-động và tư-tưởng của mình nhiên-hậu sẽ vượt ra ngoài khuôn khổ đạo lý. Việc quan- trọng nhất là nếu đã tới 30 tuổi mà không tự-lập được vững-vàng, ta sẽ gặp nhiều gian-truân chứ đừng nói chi đến việc có thể giúp mình và giúp đời một cách có hiệu-quả được.

II. Việc Học và Trau Giồi Kiến-Văn

1. Học Kinh-Nghiệm Của Người

Muốn lập thân cho đúng nghĩa của nó, các bạn trẻ phải chú-tâm vào việc học. Học không phải có nghĩa là chúng ta chỉ cần cắp sách đến trường và đọc nhiều sách vở để biết chữ nghĩa hay học được một nghề để kiếm nhiều tiền hầu vinh-thân phì-gia là đuViệc học phải gồm đủ mọi mặt và nhiều cách.
Mục-đích của việc học là để thành con người với đúng nghĩa của nó, tức là con người hoàn-hảo, có đạo-đức, và hữu-dụng cho nhà cho nước. Học là noi gương sáng của tiền-nhân và các bậc vĩ-nhân quân-tử, tức là bắt-chước những việc làm ích quốc lợi dân mà các bậc tiền-nhân đã làm. Ngoài ra, chúng ta cũng cần phải bắt-chước những việc làm của các người đồng thời với ta khi việc làm của họ có ý-nghĩa và đáng cho ta học-hỏi và noi theo để cứu-nhân độ-thế.
Cần phải giao-thiệp rộng và lăn-lộn với đời để học kinh-nghiệm sống và trau-giồi kiến-văn cho quảng-bác. Học để phân-biệt được điều phải điều trái. Thấy điều tốt điều phải, ta phải bắt-chước. Thấy điều sai quấy, ta phải tránh. Người khôn là người biết học kinh-nghiệm của người khác, người dại là người chỉ biết học kinh-nghiệm của chính mình.

2. Học Một Biết Mười

Từ những hiểu-biết căn-bản của việc học có được tại học-đường và trong gia-đình, ta có thể nghiên-cứu thêm và nhiên-hậu phát-minh ra những điều mới. Làm sao học một để biết mười, tức là học cách tìm tòi nghiên-cứu, suy-diễn, nhận-xét, và phê-phán. Không nên quá tin vào sách-vở vì sách-vở cũng có nhiều cái sai trái trong đó. Người xưa có nói “Tận tín ư thư bất như vô thư,” tức là quá tin vào sách thà đừng có sách còn hơn. Điều này là để cảnh-cáo những người thuộc loại mọt-sách. Đọc sách mà không chịu phân-tích và nhận-xét thì chỉ có hại mà thôi. Thậm-chí có người còn cho là những gì cổ- nhân viết ra để lại cho hậu-thế chỉ là những “tao-phách” (cặn bã) mà thôi. Những người biết cách học- hỏi thì phải coi những “tao-phách” này như là một tài-liệu để nghiên-cứu thêm mà thôi chứ không có thể nào hoàn-toàn tin vào đó được.

3. Học phải Hành

Những điều gì học được phải đem thực-hành để giúp-ích cho đời. Biết mà để đó cũng giống như không biết và cái biết đó là một điều vô-ích. Biết điều phải mà không làm thì cái biết đó chẳng có ích gì cho nhân-quần xã-hội. Hơn-nữa, khi ta học được điều hay mà không đem ra phổ-biến và thực- hành thì cái học của ta cũng mai-một đi. Chính vì thế mà việc học ở các nước tân-tiến đều đi từ kiến- thức tới thí-nghiệm, trắc-nghiệm, áp-dụng, rồi thi-hành, và cuối cùng lượng-giá cùng rút ưu-khuyết- điểm để cải-tiến hầu giúp-ích cho đời-sống con người tốt đẹp hơn.

4. Học để Làm Người

Đây là cái học quan-trọng nhất. Cái học của Á-Đông chúng ta chú-trọng tới việc xây-dựng con người toàn-diện về kiến-thức cũng như về đạo-đức. Cái học của Tây-Âu chú-trọng về mặt chuyên-môn để đào-tạo các chuyên-gia hơn là đào-tạo con người. Tuổi trẻ Việt-Nam ở hải-ngoại đã có lõi-cốt của cái học Á-Đông ta, nay lại được học thêm cái tinh-tuý về khoa-học kỹ-thuật Tây-Âu thì thật là điều tuyệt-diệu. Học để có kiến-thức và chuyên-môn cao thì dễ, nhưng muốn học để làm người, con người toàn-diện, thì rất khó. Chính vì thế mà các bạn trẻ cần phải chú-ý các mặt sau để việc học của ta thêm hoàn-hảo:

– Ở trong Gia-Đình Phải Học sao để Làm Người Con Hiếu-Thảo.

“Hiếu-Thảo” là rường- mối của mọi nết ăn-ở trên đời. Cha mẹ là người sinh ra mình, săn-sóc và nuôi-nấng mình rất vất-vả, và còn lo giáo-dục cho mình nên người tử-tế nữa. Công-đức ấy kể sao cho xiết được! Chính vì thế mà con cái phải biết kính-yêu và biết ơn cha mẹ. Lúc nhỏ, con cái chỉ cần thể-hiện lòng biết ơn cha mẹ bằng cách vâng-lời cha mẹ, chăm-chỉ học-hành, và yêu mến cha mẹ. Khi lớn lên, con cái thể-hiện sự biết ơn cha mẹ bằng cách hết lòng phụng-dưỡng mẹ cha, ân-cần săn-sóc cha mẹ, kính-trọng cha mẹ, và giúp-đỡ cha mẹ mổi khi cha mẹ cần đến. Có được như thế thì con cái mới được gọi là người con có hiếu và mới được gọi là người có giáo-dục. Nếu làm trái các điều này, ta là người con bất-hiếu. Con người đã mang tội bất-hiếu thì chắc-chắn họ chỉ là kẻ sâu-dân mọt-nước.

Học Sao để Có Đễ với Anh Chị Em của Mình.

 “Đễ” có nghĩa là kính yêu, thương yêu, và hoà-thuận đối với anh chị em. Nói một cách khác, đối-xử tử-tế, hợp đạo-lý, và giữ trọn tình-nghĩa trước sau với anh chị em đều được gọi là “đ” Có đễ thì anh chị em mới hoà, đồng-bào mới thương yêu nhau, và nhiên-hậu xã-hội mới thịnh-vượng.

– Học sao để Đạt Được Đức-Tính Cẩn-Trọng và Chân-Thành

  Khi làm việc gì và khi tiếp- đãi ai, “cẩn-trọng” là điều ta phải chú tâm. Điều này có nghĩa là khi giao-tiếp với tha-nhân, ta phải giữ lễ và tôn-trọng ý-kiến của họ.
Khi đã nhận làm việc gì, ta phải chú-tâm để làm cho bằng được. Khi đã hứa với ai điều gì, ta phải giữ lời và nếu vì lẽ gì không giữ được lời đã hứa, ta phải thông-báo kịp thời để người ta tìm người khác thay thế.
Đã có quan-niệm cho là người Việt mình quá nhiều tự-ái và thiếu chân-thành. Trong thực- tế, nhận-xét này rất đúng. Chính vì lẽ đó, muốn thành-công và giúp ích cho dân cho nước, ta phải bớt tự-ái và thêm chân-thành. Chân-thành là nghĩa là duyên, Bớt phần tự-ái tạo nên thân tình (thơ Khải Chính). Sự chân-thành phải coi là nòng-cốt vì có chân-thành mới có tín. Tín là báu-vật của cả nhân- loại. Không có tín, con người sẽ biến thành kẻ bất-lương và là hạng sâu-dân mọt-nước. Khi làm việc, ta phải cẩn-trọng và chân-thành, tức là có tín, thì mọi việc sẽ thành-công. Muốn thế, khi làm một công việc gì, ta phải có kế-hoạch thi-hành, đôn-đốc, và kiểm-soát trong tinh-thần cộng-tác, tương-kính, khoa-học, và dân-chủ.
Có cẩn-trọng và có tín thì ta mới có thể làm việc ích-quốc lợi-dân được. Ở Bắc-Mỹ này nếu ta bị coi là người “no trust,” tức là kẻ bất-tín, thì không thể nào tiến-thân được và suốt đời phải sống trong sự khinh-khi của người đời.

– Phải Học Sao Có Được Lòng Từ-Ái, Khoan-Dung, và Độ-Lượng.

Đạo Phật coi trọng các hạnh “đại-từ ,đại-bi, đại-hỷ, đại-xậu” Đại-từ là lòng hiền-lành lớn nhằm đem lại niềm-vui cho tất-cả chúng-sinh, đại-bi là lòng thương-xót lớn nhằm cứu-khổ cho tất cả chúng-sinh, đại-hỷ là tạo sự vui-vẻ với tất-cả chúng-sinh, và đại-xả là đem tất-cả mọi sự vui thích của mình mà thí cho người khác.

Đạo Thiên-Chúa coi trọng đức “bác-ái” Bác-ái là yêu thương tất-cả mọi người mọi vật và giúp ích cho đời, yêu người như yêu mình và yêu cả kẻ thù.

Khổng-Giáo coi trọng lòng “nhân” Nhân là tính tốt ở trong lòng mà trời đã phú sẵn cho ta, đó là cái lòng tốt của con người. Lòng nhân là điều cốt-yếu giúp ta để trở thành con người vì nếu con người đã bất-nhân thì không còn phải là con người nữa mà là con vật!  Ngoài ra, Khổng Tử còn nói: “Khắc kỷ phục lễ vi nhận” Điều này có nghĩa là bỏ hết cái bệnh tư-dục của mình là khắc-kỷ, hồi-phục được chân-lý của trời là phục lễ, đó là nhân. Nói tóm-lại, nhân là lòng thương yêu và kính-trọng người.

Phật-Giáo,Thiên-Chúa-Giáo, và Khổng-Giáo đều dậy ta tấm lòng yêu thương tha-nhân, khoan-dung độ-lượng với mọi người, và ăn ở phải có lòng nhân. Ta phải sáng-suốt để gần-gũi người có nhân
“Khoan- dung độ-lượng” có nghĩa là tha-thứ và thương yêu mọi người khi họ vô-ý vướng phải lỗi-lầm.

-[b] Phải Học Sao Để Lập-Chí. Khi muốn làm việc gì, ta quyết-định làm cho bằng được, đó là chí. Người xưa thường nói: “Hữu chí giả, sự cánh thành (người đã có chí thì việc chắc phải nên); có chí thì nên; có chí làm quan, có gan làm giàu; làm trai chí ở cho bền, chớ lo muộn vợ, chớ phiền muộn con; làm trai có chí lập-thân, rồi ra gặp hội phong-vân có ngày; làm trai quyết-chí tang-bồng, sao cho tỏ mặt anh-hùng mới cạm” Vậy chí là cái lòng muốn làm và quyết-định làm một việc gì cho đến thành-công mới thôi. Ta phải học-tập làm sao để thực-hiện được “lòng muốn và quyết-định” này mỗi khi ta bắt tay vào làm một công-việc gì. Có như thế thì mọi việc ta theo-đuổi mới thành-công tốt đẹp.

Khi đã có hiếu, đễ, cẩn-trọng, chân-thành, từ-ái, khoan-dung độ-lượng, và lập được chí thì cái học của ta mới toàn-vẹn. Tuy-nhiên, cuộc đời vẫn có nhiều ngoại-lệ, nhất là ở thời nay. Hoàn-cảnh và dòng-giống cũng có ảnh-hưởng đến sự hiểu-biết và sự lập-nghiệp của con người. Xưa cũng như nay, vẫn có người lập-nghiệp và tự-lập được ở cái tuổi hai mươi và có người còn sớm hơn nữa. Tuy nhiên, vẫn có nhiều người ở ngoài cái tuổi 30 mà vẫn không lập-nghiệp và tự-lập được.
Cùng một trình-độ học-vấn mà ở mỗi tuổi người ta hiểu sự-vật một khác. Cùng một tác-phẩm mà mỗi lần đọc lại, ta lại hiểu kỹ hơn. Cuộc sống và sự học-hỏi giúp ta hiểu đời càng ngày càng kỹ hơn. Chính vì thế mà đến tuổi 60, nếu đã có kiến-văn và kinh-nghiệm vững-vàng thì mỗi khi thấy sự việc gì dù trái hay phải, dù thiện hay ác, dù sướng hay khổ, ta cũng không lấy gì làm ngạc-nhiên. Bởi thế cái tuổi 60 mươi mới được gọi là tuổi “nhi nhĩ thuận” Đến tuổi 70, nếu ta có kiến-văn quảng-bác, kinh-nghiệm chín-chắn, và sở-học uyên-thâm thì mọi việc ta suy-nghĩ, phát-biểu, hay làm đều theo dúng với lương-tâm cùng khuôn-khổ của đạo-lý. Bởi thế, cái tuổi 70 mới được gọi là tuổi “tùng tâm sở dục bất du cụ”

III. Kết-Luận

Không phải cứ có nhiều tuổi ta mới thông-minh tài giỏi. Thông-minh có thể do nòi-giống và sự bẩm-sinh mà có. Người xưa thường cho là “lão ô bách tuế không bằng phượng hoàng sơ sinh” (con quạ già trăm tuổi không bằng chim phượng-hoàng mới sinh ra) hay “hậu sinh khả uý” là vậy. Tuy nhiên, kiến-thức và kinh-nghiệm phải do học-hỏi mới thành. Tuổi đời cộng thêm việc học-hỏi và từng-trải mới đạt được các trình-độ “tam thập nhi lập, tứ thập nhi bất hoặc, ngũ thập nhi tri thiên mệnh, lục thập nhi nhĩ thuận, và thất thập nhi tùng tâm sở dục bất du cụ” Ta cần phải chú tâm vào việc học ngay từ khi còn trẻ và tiếp-tục học mãi cho đến già. Việc học phải bao-gồm từ sự bắt-chước, trau-giồi kiến-thức, nghiên-cứu, áp-dụng, thực-hành, đến việc học làm người. Ngoài ra, ta phải cố-gắng và có quyết-tâm học-hỏi thì mới mong đạt tới trình-độ từ “tam thập nhi lập” đến “tùng tâm sở dục bất du củ” một cách đúng nghĩa của nó được.

Theo Vietsciences. 

Quy mô thị trường chứng khoán Việt Nam

 Năm 2007 sẽ kết thúc trong vài ngày nữa. Đã đến lúc cần nhìn lại thị trường chứng khoán Việt Nam, ngõ hầu có thể giúp ích cho việc nghiên cứu, đánh giá.

Thứ nhất, trên hai sàn, hiện có 249 công ty niêm yết và chứng chỉ quỹ (sàn TP.HCM 138, sàn Hà Nội 111). Mặc dù tăng khá so với thời điểm khi mới hoạt động cũng như một số thời điểm trước đây (cuối năm 2006 có 193, cuối năm 2005 có 41), nhưng nếu so với số lượng công ty cổ phần hiện hữu ở Việt Nam thì chiếm chưa được 2%. Đó là một tỷ lệ rất thấp. Có hai vấn đề đặt ra. Một mặt, cần đẩy mạnh cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và phát triển mạnh hơn nữa số lượng công ty cổ phần không có vốn nhà nước. Mặt khác, cần thúc đẩy, tạo điều kiện cho các công ty cổ phần thực hiện niêm yết trên sàn chính thức, vì đây là một trong những chỉ báo quan trọng không chỉ phản ánh quy mô mà còn phản ánh cả mức độ phổ cập của thị trường chứng khoán Việt Nam. Số công ty chứng khoán hiện có là 74, cao hơn số 55 của 2006 và 14 của 2005. Số công ty quản lý quỹ hiện có 24, tăng so với 18 của 2006 và 6 của 2005.

Thứ hai, tổng khối lượng cổ phiếu niêm yết đạt trên 5,5 tỉ đồng, cao gấp hơn 2 lần cuối năm 2006 và gấp 15 lần năm 2005.

Thứ ba, tổng giá trị vốn hóa thị trường – một trong những chỉ báo có tầm quan trọng hàng đầu phản ánh quy mô thị trường chứng khoán – đến nay đã đạt khoảng 491 nghìn tỉ đồng (sàn TP.HCM 361 nghìn tỉ đồng, sàn Hà Nội 130 nghìn tỉ đồng). So với GDP tính theo giá thực tế năm 2007 (ước đạt 1.140 nghìn tỉ đồng), thì tổng giá trị vốn hóa thị trường chứng khoán Việt Nam đạt 43%, cao hơn rất nhiều so với các thời gian trước đây; thuộc loại khá cao đối với một số nước mà thị trường chứng khoán mới ra đời cách đây dăm bảy năm; vượt xa mục tiêu đề ra cho đến năm 2010. Tuy nhiên, nếu tính bằng USD theo tỷ giá hối đoái, thì tổng giá trị vốn hóa thị trường của Việt Nam mới đạt khoảng 30,7 tỉ USD, còn thấp xa so với quy mô của các thị trường trong khu vực, ở châu Á và trên thế giới.

Thứ tư, số lượng công ty niêm yết tăng lên, nhưng các “đại gia” mới chỉ có lác đác. Các “đại gia” đã niêm yết có giá trị vốn hóa thị trường đạt trên 1.000 tỉ đồng (tức đạt trên 62,5 triệu USD) ở cả hai sàn mới đạt 70 (sàn TP.HCM 53, sàn Hà Nội 17), trong đó số đạt từ 10 nghìn tỉ đồng trở lên (tức trên 625 triệu USD) mới có 12 (sàn TP.HCM có 9, đứng đầu là VNM trên 29,4 nghìn tỉ đồng, tiếp đến là STB gần 28,7 nghìn tỉ đồng, DPM trên 27,5 nghìn tỉ, FPT trên 20,4 nghìn tỉ, SSI trên 19,8 nghìn tỉ, PPC trên 19 nghìn tỉ, PVD 16,3 nghìn tỉ, HPG trên 12,4 nghìn tỉ, VIC 12,4 nghìn tỉ; sàn Hà Nội có 3, đứng đầu – đồng thời cũng đứng đầu cả nước – là ACB gần 42,6 nghìn tỉ, tiếp đến là KBC 17,8 nghìn tỉ, PVS trên 11,9 nghìn tỉ). Như vậy, công ty niêm yết giá trị vốn hóa thị trường lớn nhất Việt Nam cho đến nay đạt chưa được 2,7 tỉ USD và số công ty niêm yết đạt từ 1 tỉ USD trở lên hiện mới có 10. Vấn đề đặt ra là cần đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa và đưa lên thị trường niêm yết các “đại gia” (tổng vốn sản xuất kinh doanh theo sổ sách của doanh nghiệp nhà nước hiện có 1.338,2 nghìn tỉ đồng, nếu được đấu giá thì sẽ gấp nhiều lần con số đó).

Thứ năm, số nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán chính thức hiện có trên 307 nghìn tài khoản, mặc dù tăng nhanh so với các thời điểm trước đây, nhưng so với dân số thì chiếm chưa đến 0,4%, thấp rất xa so với nhiều nước trong khu vực, ở châu Á và trên thế giới (Trung Quốc là 7%).

Đáng lưu ý, trong tổng số nhà đầu tư, nếu như ở các nước, nhà đầu tư tổ chức chiếm khoảng 70%, còn nhà đầu tư cá nhân chỉ chiếm khoảng 30%, thì trên thị trường chứng khoán Việt Nam các con số trên đã ngược lại: số nhà đầu tư cá nhân chiếm 70%, các nhà đầu tư tổ chức chỉ chiếm 30%. Chính tỷ trọng đảo ngược này cộng với nguồn vốn còn phụ thuộc lớn từ  nguồn vay ngân hàng của các nhà đầu tư cá nhân, nên tính đầu tư theo phong trào còn khá nặng; khi giá chứng khoán xuống thường ào ào bán ra, khi giá lên lại đẩy mạnh mua vào, vừa làm cho thị trường dễ biến động mạnh mà hậu quả làm cho các nhà đầu tư nhỏ lẻ dễ bị thua lỗ nặng.

Ngọc Minh

Thánh địa Mỹ Sơn – My Son Holly City

Mỹ Sơn thuộc xã Duy Phú, huyện Duy Xuyên, cách thành phố Ðà Nẵng khoảng 70 km về phía tây nam, cách Trà Kiệu khoảng 10 km về phía tây trong một thung lũng kín đáo.

Mỹ Sơn là thánh địa Ấn Độ giáo của vương quốc Chămpa. Những dòng chữ ghi trên tấm bia  sớm nhất ở Mỹ Sơn, có niên đại khoảng thế kỷ thứ 4 cho biết vua Bhadresvara đã xây dựng một ngôi đền để dâng cúng vua thần Siva- Bhadresvara. Hơn hai thế kỷ sau đó, ngôi đền đầu tiên được xây dựng bằng gỗ đã bị thiêu huỷ trong một trận hỏa hoạn lớn.

Vào đầu thế kỷ thứ 7, vua Sambhuvarman đã xây dựng lại ngôi đền bằng những vật liệu bền vững hơn, còn tồn tại đến ngày nay. Các triều vua sau đó đều tu sửa các đền tháp cũ và xây dựng đền tháp mới để dâng lên các vị thần của họ.

Với hơn 70 công trình kiến trúc bằng gạch đá, được xây dựng từ thế kỷ thứ 7 đến thế kỷ 13, Mỹ Sơn trở thành trung tâm kiến trúc quan trọng nhất của Vương quốc Chămpa. Những đền thờ chính ở Mỹ Sơn thờ một bộ Linga hoặc hình tượng của thần Siva – Ðấng bảo hộ của các dòng vua Chămpa. Vị thần được tôn thờ ở Mỹ Sơn là Bhadrésvara, là vị vua đã sáng lập dòng vua đầu tiên của vùng Amaravati vào cuối thế kỷ 4 kết hợp với tên thần Siva, trở thành tín ngưỡng chính thờ thần – vua và tổ tiên hoàng tộc.

Vào năm 1898, di tích Mỹ Sơn được phát hiện bởi một học giả người Pháp tên là M.C Paris. Vào những năm đầu thế kỷ XX này, 2 nhà nghiên cứu của Viễn thông Pháp là L.Finot và L.de Lajonquière và nhà kiến trúc sư kiêm khảo cổ học H. Parmentier đã đến Mỹ Sơn để nghiên cứu văn bia và nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc Chăm. Cho đến những năm 1903-1904 những tài liệu cơ bản nhất về bia ký và nghệ thuật kiến trúc Mỹ Sơn đã được L.Finot chính thức công bố.

Tiền thân của quần thể kiến trúc Mỹ Sơn cổ kính này, theo căn bia để lại là một ngôi đền làm bằng gỗ để thờ thần Diva Bhadresvera. Nhưng đến khoảng cuối thế kỷ VI, một cơn hoả hoạn đã thiêu cháy ngôi đền gỗ. Bức màn lịch sử đã được các nhà khoa học vén dần lên thông qua những bia ký và lịch sử nhiều triều đại xưa cho ta thấy Mỹ Sơn là khu thánh địa quan trọng nhất của dân tộc Chăm suốt từ cuối tế kỷ IV đến thế kỷ XV. Bằng vật kiệu gạch nung và đá sa thạch, trong nhiều thế kỷ người Chăm đã dựng lên một quần thể kiến trúc đền tháp độc đáo, liên hoàn: Ðền chính thờ Linga-Yoni biểu tượng của năng lực sáng tạo. Bên cạnh tháp chính (Kalan) là những tháp thờ nhiều vị thần khác hoặc thờ những vị vua đã mất. Mặc dù thời gian cùng chiến tranh đã biến nhiều khu tháp thành phế tích nhưng những hiện vật điêu khắc, kiến trúc còn lại cho đến ngày nay vẫn còn để lại những phong cách giai đoạn lịch sử mỹ thuật dân tộc Chăm, những kiệt tác đánh dấu một thời huy loàng của văn hoá kiến trúc chămpa cũng như của Đông Nam Á

Mỗi thời kỳ lịch sử, kiến trúc mang phong cách riêng, cũng như mỗi đền tháp thờ những vị thần, những triều vua khác nhau tạo nên đường nét kiến trúc đầy dấu ấn, nhưng nhìn chung tháp Chàm đều được xây dựng trên một mặt bằng tứ giác, chia làm 3 phần: Ðế tháp biểu hiện thế giới trần gian, vững chắc. Thân tháp tượng hình của thế giới thần linh, kỳ bí mê hoặc. Phần trên cùng là hình người dâng hoa trái theo nghi lễ hoặc hình cây lá, chim muông, voi, sư tử… động vật gần gũi với tôn giáo và cuộc sống con người.

Theo các nhà nghiên cứu tháp Chàm cổ, nghệ thuật kiến trúc tháp Chàm tại  Mỹ Sơn hội tụ được nhiều phong cách; mang tính liên tục từ phong cách cổ thế kỷ VII đến thế kỷ VIII; phong cách Hoà Lai thế kỷ VIII đến thế kỷ thứ IX; phong cách Ðồng Dương từ giữa thế kỷ IX; phong cách Mỹ Sơn và chuyển tiếp giữa Mỹ Sơn và Bình Ðịnh; phong cách Bình Ðịnh… Trong nhiều công trình kiến trúc còn lại khi phát hiện (1898) có tháp cao tới 24m, trong khu vực Tháp Chùa mà các sách khảo cổ, nghiên cứu về Mỹ Sơn có ký hiệu là tháp cổ Chăm Pa, có 2 của ra vào phía Ðông và phía Tây. Thân tháp cao, thanh tú với một hệ thống cột ốp. Xung quanh có 6 tháp phụ, toàn bộ ngôi tháp 2 tầng toả ra như cánh sen. Tầng trên, chóp đá sa thạch được chạm hình voi, sư tử, tầng dưới, mặt tường là hình những người cưỡi voi, hình các thiên nữ thuỷ quái. Nhưng ngôi tháp giá trị này đã bị không lực mỹ huỷ hoại trong chiến tranh, năm 1969.

Sau khi phát hiện ra khu tháp cổ Mỹ Sơn, nhiều hiện vật tiêu biểu trong đó đặc biệt là những tượng vũ nữ, các thần linh thờ phượng của dân tộc Chăm, những con vật thờ cũng như những cảnh sinh hoạt cộng đồng đã được đưa về thành phố Ðà Nẵng xây dựng thành bảo tàng kiến trúc Chămpa. Tuy không phải là nhiều, nhưng những hiện vật này là những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc tiêu biểu, nó có giá trị văn hoá của một dân tộc, nhưng hơn thế nữa, có là những chứng tích sống động, xác thực lịch sử của một trong những dân tộc trong cộng đồng Việt Nam giàu truyền thống văn hoá.

 My Son Holly City.

My Son, located 69 km southwest of Danang, was an imperial city during the Cham dynasty, between the 4th and 12th centuries. My Son Sanctuary is a large complex of religious relics that comprises more than 70 architectural works. They include temples and towers that connect to each other with complicated red brick designs. The main component of the Cham architectural design is the tower, built to reflect the divinity of the king.

I_myson1.gif (116231 bytes)

According to records on the stone stele, the prime foundation of the ancient My Son architectural complex was a wooden temple to worship the Siva Bhadresvera genie. In the late 16th century, a big fire destroyed the temple.   Step by step, historical mysteries were unveiled by scientists. Through stone stele and royal dynasties, they proved My Son to be the most important Holy Land of the Cham people from the late 4th to the 15th centuries. For many centuries, the Cham built Lip, a mutually linked architectural complex, with baked bricks and sandstone. The main temple worships the Linga-Yoni, who represents the capability of invention. Beside the main tower (Kalan) are several sub-towers worshipping Genies or deceased kings. Although time and the wars have destroyed some towers, the remaining sculptural and architectural remnants still reflect the style and history of the art of the Cham people. Their masterpieces mark a glorious time for the architecture and culture of the Cham, as well as of  Southeast Asia. 

Each historical period  has its own identity, so that each temple worshipping a genie or a king of a different dynasty has its own architectural style full of different impression. All of the Cham towers were built on a quadrate foundations and each comprises three parts: a solid tower base, representing the world of human beings, the mysterious and sacred tower body, representing the world of spirits, and the tower top built in the shape of a man offering flowers and fruits or of trees, birds, animals, etc., representing things that are close to the spirits and human beings. 

I_myson2.gif (43162 bytes)

According to many researchers of the ancient Cham towers, the architectural art of the Cham towers at My Son Sanctuary is the convergence of different styles, including the continuity of the ancient style in the 7th-8th centuries, the Hoa Lai style of the 8th-9th centuries, the Dong Duong style from the mid-9th century, the My Son and My Son-Binh Dinh styles, etc. Among the remnants of many architectural sites excavated in 1898,  a 24 metres high tower was found in the Thap Chua area and coded A I by archaeologists and researchers on My Son. This tower is a masterpiece of ancient Cham architecture. It has two doors, one in the east and the other in the west. The tower body is high and delicate with a system of paved pillars;  six sub-towers surround the tower. This two storey tower looks like a lotus flower. The top of the upper layer is made of sandstone and carved with elephant and I ion designs. In the lower layer, the walls are carved with fairies and water evils and men riding elephants. Unfortunately, the tower was destroyed by US bombs in 1969. 

After the My Son ancient tower complex was discovered, many of its artifacts, especially statues of female dancers and genies worshipped by the Cham people, worship animals and artifacts of the daily communal activities, were collected and displayed at the Cham Architecture Museum in Danang city. Although there are not many remnants left, those that remain display the typical sculptural works of cultural value of the Cham nationality. Furthermore, they are vivid proof, confirming the history of a nationality living within the Vietnamese community boasting of a rich cultural tradition.

Caolang ST.


Vịnh Hạ Long – Di sản thế giới

Nằm ở vùng Ðông Bắc Việt Nam, vịnh Hạ Long là một phần vịnh Bắc Bộ, bao gồm vùng biển của thành phố Hạ Long, thị xã Cẩm Phả và một phần của huyện đảo Vân Ðồn. Phía tây nam Vịnh giáp đảo Cát Bà, phía đông là biển, phần còn lại giáp đất liền với đường bờ biển dài 120 km, được giới hạn từ 106o58′ – 107o22′ kinh độ Ðông và 20o45′ – 20o50′ vĩ độ Bắc với tổng diện tích 1553 km2 gồm 1969 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó 989 đảo có tên và 980 đảo chưa có tên. Ðảo của vịnh Hạ Long có hai dạng là đảo đá vôi và đảo phiến thạch, tập trung ở hai vùng chính là vùng phía đông nam (thuộc vịnh Bái Tử Long) và vùng phía tây nam (thuộc vùng vịnh Hạ Long) có tuổi kiến tạo địa chất từ 250 – 280 triệu năm. Vùng tập trung dày đặc các đảo đá có phong cảnh ngoạn mục và nhiều hang động đẹp nổi tiếng là vùng trung tâm Di sản thiên nhiên vịnh Hạ Long, bao gồm vịnh Hạ Long và một phần vịnh Bái Tử Long. Vùng Di sản thiên nhiên được thế giới công nhận có diện tích 434 km2 bao gồm 775 đảo, như một hình tam giác với 3 đỉnh là đảo Ðầu Gỗ (phía tây), hồ Ba Hầm (phía nam), đảo Cống Tây (phía đông) vùng kế bên là khu vực đệm và di tích danh thắng quốc gia được Bộ Văn hoá Thông tin xếp hạng năm 1962.

halong.gif (32648 bytes)

Từ trên cao nhìn xuống, vịnh Hạ Long như một bức tranh khổng lồ vô cùng sống động. Ði giữa Hạ Long, ta ngỡ như lạc vào một thế giới cổ tích bị hoá đá, đảo thì giống hình một người đang đứng hướng về đất liền (hòn Ðầu Người), đảo thì giống như một con rồng đang bay lượn trên mặt nước (hòn Rồng), đảo thì lại giống như một ông lão đang ngồi câu cá (hòn Ông Lã Vọng), hòn Cánh Buồm, hòn Cặp Gà, hòn Lư Hương… Tất cả trông rất thực, thực đến kinh ngạc. Hình dáng những đảo đá diệu kỳ ấy biến hoá khôn lường theo góc độ ánh sáng trong ngày và theo góc nhìn. Tiềm ẩn trong lòng các đảo đá ấy là những hang động tuyệt đẹp như động Thiên Cung, hang Ðầu Gỗ, động Sửng Sốt, động Tam Cung… Ðó thực sự là những lâu đài của tạo hoá giữa chốn trần gian. Từ xưa, Hạ Long đã được đại thi hào dân tộc Nguyễn Trãi mệnh danh là kỳ quan đất dựng giữa trời cao. Vịnh Hạ Long cũng là nơi gắn liền với sự phát triển của lịch sử dân tộc với những địa danh nổi tiếng như Vân Ðồn – nơi có thương cảng cổ nổi tiếng một thời (1149), có núi Bài Thơ ghi bút tích của nhiều bậc vua chúa, danh nhân, xa hơn chút nữa là dòng sông Bạch Ðằng – nơi đã từng chứng kiến hai trận thuỷ chiến lẫy lừng của cha ông ta chống giặc ngoại xâm.. Không chỉ có vậy, Hạ Long ngày nay được các nhà khoa học chứng minh là một trong những cái nôi của con người có nền văn hoá Hạ Long từ Hậu kỳ đồ đá mới với những địa danh khảo cổ học nổi tiếng như Ðồng Mang, Xích Thổ, Soi Nhụ, Thoi Giếng… Hạ Long cũng là nơi tập trung đa dạng sinh học cao với những hệ sinh thái điển hình như hệ sinh thái rừng ngập mặn, hệ sinh thái rạn san hô, hệ sinh thái tùng áng, hệ sinh thái rừng cây nhiệt đới… Với hàng ngàn loài động, thực vật vô cùng phong phú trên rừng dưới biển, cá, mực… Có những loài đặc biệt quý hiếm chỉ có ở nơi đây.

Với những giá trị đặc biệt như vậy, ngày 17/12/1994, trong phiên họp lần thứ 18 của Hội đồng Di sản Thế giới thuộc UNESCO tổ chức tại Thái Lan, vịnh Hạ Long chính thức được công nhận là Di sản thiên nhiên, khẳng định giá trị mang tính toàn cầu của Di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long.

I. Hang, Ðộng

Hang Ðầu Gỗ

hl_daugo.gif (12997 bytes)Giữa non nước mây trời Hạ Long tuyệt mỹ, một chiếc hang mang tên vô cùng mộc mạc dân dã: hang Ðầu Gỗ. Hang nằm trên đảo Ðầu Gỗ, xưa đảo này có tên là đảo Canh Ðộc. Sách Ðại Nam Nhất thống chí có ghi “Hòn Canh Ðộc lưng đảo có động rộng rãi có thể chứa vài ngàn người, gần đó có hòn Cặp Gà, Hòn Mèo, Hòn La…” Sở dĩ gọi là hang Ðầu Gỗ, theo truyền thuyết xưa kể rằng: Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông, Trần Hưng Ðạo đã cho chuẩn bị nhiều cọc gỗ lim ở đây để cắm xuống lòng sông Bạch Ðằng, có rất nhiều mẩu gỗ còn sót lại vì vậy động mang tên là hang Ðầu Gỗ. Từ phía xa nhìn lại, cửa hang có màu xanh lam hình một con sứa biển, qua 90 bậc đá xây ta tới cửa động. Nếu động Thiên Cung hoành tráng khoẻ khoắn, hiện đại thì hang Ðầu Gỗ trầm mặc uy nghi nhưng cũng rất đồ sộ. Cuốn Meivelle de Monde (kỳ quan thế giới) của Pháp xuất bản năm 1938 chuyên về du lịch giới thiệu về các danh thắng nổi tiếng thế giới đã mệnh danh hang Ðầu Gỗ là Grotto des meivellis (động của các kỳ quan). Ðiều đó hoàn toàn chính xác. Hang được chia làm ba ngăn chính. Ngăn phía ngoài có hình vòm cuốn tràn trề ánh sáng tự nhiên, trần hang là một bức “tranh sơn dầu” khổng lồ, trong đó vẽ phong cảnh thiên nhiên hoang sơ, đó là những đàn voi đang đi kiếm ăn, những chú hươu sao ngơ ngác, chú sư tử lim dim ngủ… với những tư thế vô cùng sinh động. Phía dưới là một chú rùa đang bơi giữa bể nước mênh mông, những rừng măng đá, nhũ đá nhiều mầu với nhiều hình thù kỳ lạ tuỳ theo trí tưởng tượng phong phú của từng người. Ðứng dưới vòm hang ta có cảm giác như đang đứng giữa một toà lâu đài cổ kính, có lối kiến trúc đồ sộ và hùng vĩ. Chính giữa lòng hang là một cột trụ chống trời khổng lồ, hàng chục người ôm không xuể, từ phía dưới chân cột lên trên được bàn tay điêu khắc tài tình của tạo hoá gọt rũa thành những hình mây bay, rồng cuốn, phượng múa, hoa lá, dây leo… Trên đỉnh cột, bất giác ta bắt gặp một vị tu sĩ mặc áo choàng thâm, tay phải cầm gậy tích trượng trong tư thế tụng kinh, niệm Phật. Qua ngăn thứ 1, vào ngăn thứ 2 bằng một khe cửa hẹp. ánh sáng chiếu vào đây mờ ảo, những bức tranh mới lạ hiện lên long lanh huyền bí. Những chùm hoa đá lúc ẩn lúc hiện, những hình ảnh vừa quen thuộc vừa lạ,… tạo cho con người vừa sợ sệt vừa tò mò. Tận cùng hang là một chiếc giếng tiên bốn mùa nước ngọt trong vắt, chảy tràn trề quanh năm. Bất giác ta nhìn lên phía trên trong ánh sáng mờ ảo, ta nhận ra bốn xung quanh là bức thành cổ, trên đó đang diễn ra một trận hỗn chiến kỳ lạ, những chú voi đang gầm thét, người và ngựa chen chúc, gươm giáo mọc tua tủa, tất cả đang ở trong tư thế xông lên và bỗng dưng bị hoá đá chốn này. Năm 1917, vua Khải Ðịnh lên thăm hang Ðầu Gỗ, ngỡ ngàng trước vẻ đẹp thần tiên của tạo hoá, ông đã cho khắc một tấm văn bia với nội dung ca ngợi cảnh đẹp của non nước Hạ Long và hang Ðầu Gỗ. Hiện nay, tấm bia đá vẫn còn ở phía bên phải cửa động.

Hang Sửng Sốt

Nằm ở khu vực trung tâm của Di sản thế giới vịnh Hạ Long, động Sửng Sốt trong đảo Bồ Hòn. Người Pháp đặt cho động cái tên grotto les suprices (động của những sửng sốt). Ðây là một hang động rộng và đẹp vào bậc nhất của vịnh Hạ Long. Mặt khác động nằm ở vùng trung tâm du lịch của vịnh Hạ Long (bãi tắm Ti Tốp – hang Bồ Nâu – động Mê Cung – hang Luồn – động Sửng Sốt) và đây cũng là nơi tập trung nhiều đảo đá có hình dáng đặc sắc không nơi nào có được. Ðường lên động Sửng Sốt luồn dưới những tán lá rừng, những bậc đá ghép cheo leo, du khách vừa có được cái thú của người leo núi, vừa có cái háo hức như đang đi lên trời vậy. Ðộng được chia làm hai ngăn chính, toàn bộ ngăn một như một nhà hát lớn rộng thênh thang. Trần hang được phủ bằng một lớp “thảm nhung” óng mượt, vô số những “chùm đèn treo” bằng nhũ đá rực sáng long lanh, những tượng đá, voi đá, hải cẩu, mâm xôi, hoa lá… tất cả dường như đang chuyển động trong một thế giới huyền ảo như thực như mơ. Chưa hết ngỡ ngàng trước vẻ đẹp thần kì của tạo hoá, ta bước vào ngăn II bằng một con đường nhỏ. Một luồng ánh sáng ùa vào rực rỡ, động mở ra một khung cảng mới hoàn toàn khác lạ, ngăn động rộng mênh mông có thể chứa được hàng ngàn người, ngay cạnh lối ra vào là một chú ngựa đá và một thanh gươm dài. Truyền thuyết xưa kể rằng, sau khi đánh tan giặc Ân, Thánh Gióng đã giúp dân chúng ở đây đánh đuổi yêu ma, khi dẹp xong Thánh Gióng bay về trời và để lại thanh gươm và con ngựa quý để trấn an dân chúng, xua đuổi yêu quái. Hiện nay trong hang còn nhiều hình ảnh tự nhiên dường như là những dấu tích của trận chiến ác liệt đó, vết chân ngựa Gióng trở thành những ao hồ nhỏ xinh xinh cùng nhiều tảng đá to lớn vỡ vụn. Ði vào trong cảnh trí còn lắm điều kỳ lạ, như nhũ đá, cây đa cổ thụ tán lá xum xuê, chú gấu biển, khủng long… Tới đỉnh cao nhất của động, bất ngờ một khu “vườn thượng uyển” mở ra trước mắt, có hồ nước trong vắt, phong cảnh sơn thuỷ hữu tình, muôn loài cây như si, vạn tuế, đa cổ thụ cùng nhiều loài chim sinh sống. Những ngày đẹp trời, từng đàn khỉ kéo nhau xuống đây tìm hoa quả ăn làm náo động cả một vùng.

Hang Trinh Nữ – Hang Trống

hl_trinhnu.gif (12257 bytes)Hang Trinh Nữ nằm trên dãy đảo Bồ Hòn cùng với hệ thống động Sửng Sốt, hồ Ðộng Tiên, Hang Luồn… Cách Bãi Cháy 15 km về phía Nam. Với người dân đánh cá, họ coi hang Trinh Nữ là ngôi nhà thân yêu của họ, còn những đôi trai gái yêu nhau lại coi đây là biểu tượng, nơi thề nguyện của tình yêu. Người Pháp xưa đặt cho hang cái tên Le virgin (động của người con gái). Truyền thuyết xưa kể rằng: Xưa có một người con gái vạn chài xinh đẹp, nhà nghèo, gia đình cô phải đi làm thuê cho tên chủ cai quản vùng đánh cá. Thấy cô xinh đẹp, hắn ép gia đình cô gả cô làm vợ bé cho hắn, cô không chịu vì cô đã có người yêu, chàng trai đó đang ra khơi đánh cá để chuẩn bị cho ngày cưới của họ. Không làm gì nổi cô, tên địa chủ đã đày cô ra một đảo hoang nhằm khuất phục ý chí của cô, cô đói lả và kiệt sức. Trong một đêm mưa gió hãi hùng, cô gái đã hoá đá nơi đây. Ðó cũng là đêm chàng trai biết tin cô gặp nạn, chàng mải miết bơi thuyền đi tìm cô. Ðến đêm, giông bão ập đến thuyền chàng vỡ nát, chàng dạt lên một đảo hoang, trong ánh chớp, chàng nhìn ra phía xa và nhận ra cô gái nhưng những lời chàng gọi đã bị gió mang đi. Chàng dùng hòn đá đập vào vách núi báo cho nàng biết rằng chàng đã đến. Chàng gõ khi máu trên tay chảy đầm đìa, tới khi kiệt sức và chàng hoá đá (hang Trống ngày nay). Ngày nay, khi đến thăm hang Trinh Nữ, bức tượng cô gái đứng xoã mái tóc dài, đôi mắt đang nhìn về đất liền vẫn còn đó. Ðối diện với hang Trinh Nữ, hang Trống (còn được gọi là hang Con Trai). Bức tượng chàng trai hoá đá đang quay mặt về phía hang Trinh Nữ vẫn còn, những tiếng gọi tha thiết cùng tiếng gõ vào vách đá của chàng vẫn văng vẳng đâu đây. Những dấu tích của trận cuồng phong đêm đó vẫn còn đến ngày nay – đó là những đổ vỡ của đất đá ngổn ngang trong hang, tiếng gió gầm gào qua vách đá và những bọt sóng vẫn tung lên trắng xoá.

Ðộng Thiên Cung

hl_thiencung.gif (13327 bytes)Trong những hang động đẹp nổi tiếng vịnh Hạ Long mới được phát hiện trong những năm gần đây phải nói đến động Thiên Cung. Ðộng nằm ở phía tây nam vịnh Hạ Long cách bến tàu du lịch 4 km, trên đảo Ðầu Gỗ ở độ cao 25 m so với mực nước biển, có tọa độ 107o00’54” và 20o54’78”. Ðảo Ðầu Gỗ xưa còn có tên là đảo Canh Ðộc có đỉnh cao 189 m, dãy đảo như một chiếc ngai ôm trong lòng mình hai hang động đẹp. Ðường lên động Thiên Cung vách đá cheo leo, hai bên tán lá rừng che phủ um tùm, vào những đêm trăng, những chú khỉ tinh nghịch leo xuống tận đây để kiếm hoa quả. Qua một khe cửa hẹp, lòng động đột ngột mở ra không gian có tiết diện hình tứ giác với chiều dài hơn 130 mét. Càng vào trong ta càng ngỡ ngàng trước vẻ đẹp lộng lẫy của tạo hoá. Ðộng gắn liền với truyền thuyết về vua Rồng xưa. Chuyện kể rằng sau khi vua Rồng giúp dân ta đánh tan giặc giã, vua Rồng trở về động của mình an tọa, năm ấy trời hạn hán nặng, dân tình mất mùa nhiều nên họ phải cầu cứu vua Rồng ra tay làm mưa. Bao nhiêu người đã ra đi mà không có ngày trở về. Không sợ nguy hiểm gian nan, đôi trai gái quyết tâm cùng nhau đi tìm gặp vua Rồng. Người con gái của họ ra đời được đặt tên là nàng Mây. Nàng Mây lớn lên đã làm xao xuyến trái tim Hoàng tử Rồng và tình yêu đã giúp họ tìm đến với nhau, đám cưới được tổ chức 7 ngày 7 đêm tại khu vực trung tâm động. Ðể chúc mừng đám cưới, những chú rồng bay lượn lúc ẩn lúc hiện trong rừng mây nhũ đá, những chú voi con công kênh nhau lên nhảy múa, những con mãng xà lớn trườn mình quấn quanh cây đa cổ thụ, hai chú sư tử đá nhảy múa bờm tóc tung bay, trên cao những chú đại bàng giang rộng đôi cánh khổng lồ trên không trung… Một chú voi lớn được trang trí diêm dúa công phu đang nằm phủ phục chờ cô dâu chú rể bước xuống. Nam Tào, Bắc Ðẩu tóc bạc như mây cũng đến dự tiệc vui, cảnh tượng tưng bừng náo nhiệt và vô cùng sống động. Tất cả những hình ảnh đó như vừa được hoá đá nơi này. Trên vách động phía đông là một bức tranh hoành tráng đồ sộ, trong đó chạm nổi những nhân vật trong truyện cổ tích xưa, nét chạm khắc mềm mại uyển chuyển và vô cùng tinh tế sắc sảo tới từng chi tiết nhỏ, những khối điêu khắc dù là đồ sộ hay nhỏ bé đều được bàn tay của tạo hoá trau chuốt tỉ mỉ. Trung tâm động là 4 cột trụ to lớn lực lưỡng chống đỡ thiên đình. Từ chân cột tới đỉnh đều được chạm nổi nhiều hình thù kỳ lạ như chim cá, cảnh sinh hoạt của con người, hoa lá cành… Trên vách động phía bắc là cảnh một bầy tiên nữ đang múa hát chúc mừng đám cưới. Dưới vòm động cao vút, từng chùm nhũ đá rủ xuống muôn màu tạo thành bức rèm đá thiên nhiên lộng lẫy. Ðâu đó có tiếng trống bập bùng như trong đêm hội làng xưa. Ðó chính là tiếng gió thổi qua kẽ đá. Ðứng giữa vòm động cao vút, màu thạch nhũ xanh như dát ngọc ta ngỡ như đang đứng trong tiên cảnh bồng lai vậy.

Tới ngăn động cuối cùng, những luồn ánh sáng trắng xanh đỏ xen lẫn phối màu tạo nên khung cảnh hoa lệ. Một vòi nước tự nhiên bốn mùa tuôn chảy róc rách, nơi đây có ba chiếc ao, nước trong vắt. Ðây là nơi nàng Mây thường tắm cho 100 người con của mình và nuôi họ khôn lớn trưởng thành. Một con đường dẫn ra phía ngoài quanh co uốn khúc, đó chính là con đường mà nàng Mây cùng 50 người con của mình ra đi để khai phá vùng đất mới, 50 người con còn ở lại cùng với người cha xây dựng quê hương, di vật mà người mẹ để lại là bầu vú tiên tràn trề sức sống.

Hang Hanh

hl_hanghanh.gif (12673 bytes)Cách thị xã Cẩm Phả 9 km về phía tây, động Hang Hanh là một hang động đẹp và dài nhất so với các hang động hiện có trên vịnh Hạ Long. Ðộng có chiều dài 1300 m, chạy xuyên suốt dãy núi đá Quang Hanh ra tới biển. Vì vậy, người Pháp còn đặt tên cho nó là Le tunel (đường hầm). Ði đến thăm động có thể bằng thuyền canos hoặc bằng xe ôtô, phải chọn vào lúc nước thuỷ triều xuống kiệt. Lúc ấy cửa động mới lộ rõ. Bên cạnh một phiến đá bằng phẳng chắn ngang ngay bên cửa động là miếu Ba cô. Truyền thuyết xưa kể lại rằng: Xưa có ba cô gái đi biển, gặp hôm trời mưa to, ba cô vào hang trú mưa, thấy cảnh sắc trong hang đẹp quá nên ba người càng mải miết ngắm cảnh, tới lúc nước triều dâng cao ba cô gái bị mắc kẹt ở trong và bỏ mình tại hang và hoá thành thuỷ thần. Truyền thuyết là vậy, thực tế động Quang Hanh đẹp hơn ta tưởng tượng rất nhiều. Con đò nhỏ dẫn du khách luồn lách qua từng khe đá quanh co dưới ánh đuốc bập bùng, từng chùm nhũ buông rủ xuống từ trần hang ánh lên những sắc màu kỳ diệu, dòng nước êm ả lững lờ trôi, không gian tĩnh mịch chỉ có tiếng mái chèo khua nước nghe thánh thót một thứ âm thanh kỳ ảo. Càng vào sâu, động càng đẹp, mang dáng dấp hoang sơ. Những chùm hoa đá rực rỡ, những trụ kim cương chợt ánh lên bao sắc màu óng ánh, khi ta chiếu đèn vào, những mâm xôi đồ sộ, chùm hoa mẫu đơn, giò phong lan cảnh… Tất cả đang ở trong tư thế vươn ra lay động rung rinh. Ðâu đó có tiếng trống bập bùng như đêm hội từ xa vọng lại. Ðó là tiếng sóng vỗ nhẹ vào vách đá tạo nên, và còn nhiều nữa những hình ảnh đẹp kỳ lạ.

II. Ðảo, Hòn

Núi Bài Thơ

hl_nbaitho.gif (11416 bytes)Ngày trước núi có tên là Truyền Ðăng, núi cao 106 m đứng bên cạnh thị xã Hòn Gai, một nửa chân núi gắn với đất liền, nửa kia ngâm trong nước biển. Ði thuyền trên vịnh, cách bờ vịnh Hạ Long chừng 300 m đã có thể nhìn thấy bài thơ khắc trên vách núi trong một khung hình vuông, mỗi chiều dài 1,5 m.

Năm 1468, vua Lê Thánh Tông cũng là nhà thơ nổi tiếng khi đi kinh lý vùng Ðông Bắc, đã dừng chân trên vịnh Hạ Long ngay dưới chân ngọn núi nên thơ này. Xúc cảm trước thiên nhiên kỳ vĩ, nhà vua đã làm một bài thơ và truyền lệnh khắc vào vách núi. Từ đó có tên gọi là núi Bài Thơ. An Ðô Vương Trịnh Cương (1686 – 1730) cũng có một bài thơ ở núi này.

Leo núi Bài Thơ là một trò chơi đầy hấp dẫn. Ðứng ở lưng chừng núi phóng tầm mắt xa xa là biển xanh, đảo đá nhấp nhô, nhìn lên cao là trời mây bồng bềnh và xung quanh là cây, là hoa rừng, là những cánh chim ríu rít chuyển cành…

Hòn Ðỉnh Hương (Lư Hương hay Bình Phong)

Hòn Ðỉnh Hương nằm chắn ngang giữa con nước, nên rất giống tấm bình phong để che chắn. Khi thủy triều xuống, hòn Ðỉnh Hương để lộ 4 chân uốn khúc không khác gì án lư hương.

hl_gachoi.gif (11901 bytes)Hòn Gà Chọi

Ði qua hòn Ðỉnh Hương khoảng chừng 1 km, du khách sẽ nhìn thấy 2 hòn đá thật to như dáng 2 con gà đang giương cánh đá nhau trên mặt biển.

Hòn Ðũa

Hay còn gọi là hòn Ông, cách Bãi Cháy 15 km về phía đông. Ðây là ngọn núi đá cao khoảng 40 m có hình tròn trông như chiếc đũa phơi mình trước thiên nhiên. Nhìn từ hướng tây bắc, hòn Ðũa giống như vị quan triều đình áo xanh, đầu đội mũ cánh chuồn, hai tay chắp trước ngực, nên dân chài Hạ Long quen gọi là hòn Ông.

Hòn Yên Ngựa

Ðây là một ngọn núi nhỏ có dáng rất hùng vĩ, giống như một con ngựa đang lao mình về phía trước, bốn vó tung bay trên mặt nước.

hl_daokhi.gif (13299 bytes)Ðảo Khỉ

Ðảo ở cách thị xã Cẩm Phả 4 km về phía đông nam, còn có tên gọi là đảo Rều. Từ năm 1962, đảo đã trở thành trại chăn nuôi khỉ. Khỉ ở đây là loài khỉ mũi đỏ. Ðây là điểm tham quan của Hạ Long. Ðến đây du khách như được hoà mình với thiên nhiên, được sống với thế giới của “hoa quả sơn”.

Ðảo Tuần Châu

hl_tuanchau.gif (11380 bytes)Cách hang Ðầu Gỗ 3 km về phía tây, rộng khoảng 3 km2. Ðảo có tên như vậy do việc ghép hai chữ “Linh Tuần” và “Tri Châu” mà thành. Ðảo có trồng nhiều rau xanh, là nguồn cung cấp rau xanh cho thành phố.

Trên đảo còn có ngôi nhà đơn sơ làm bằng tre nứa, song mây của nhân dân tỉnh Quảng Ninh làm để chủ tịch Hồ Chí Minh nghỉ ngơi sau mỗi lần đi thăm vịnh. Hiện nay vẫn được gìn giữ bảo vệ làm nhà lưu niệm.

Tỉnh Quảng Ninh đang triển khai một dự án lớn, biến đảo Tuần Châu thành một điểm du lịch đặc sắc của quần thể vịnh Hạ Long.

III. Bãi Tắm

Bãi Cháy hl_baichay.gif (11569 bytes)

Dọc theo bờ vịnh Hạ Long là khu nghỉ mát thường quen gọi là Bãi Cháy. Ðây là khu nghỉ mát quanh năm lộng gió biển, nhiệt độ trung bình năm khoảng trên 20° C.

Bãi Cháy là một dải đồi thấp chạy thoai thoải về phía biển kéo dài hơn 2 km ôm lấy hàng thông cổ thụ nằm xen kẽ với những khách sạn cao tầng, những biệt thự nhỏ kiến trúc riêng biệt. Qua con đường rải nhựa, sát bờ vịnh là dải cát trắng và hàng phi lao xanh mát. Những hàng quán nhỏ xinh ẩn mình dưới những rặng phi lao. Tắm biển xong du khách có thể lên bờ ngồi thưởng thức những cốc nước mát lạnh để đón luồng gió biển.

Bãi Cháy – vịnh Hạ Long là một điểm du lịch hấp dẫn khách trong và ngoài nước.

(Theo vietnamtourism.com)

Lạm phát năm 2007 lên tới 12,6%!

* Giá thực phẩm cả năm tăng hơn 21%

Theo Tổng cục Thống kê, giá tiêu dùng tháng 12 tăng tới 2,91%, không những cao nhất so với các tháng trong năm nay (kể cả tháng 2 là tháng có Tết Nguyên đán cũng chỉ tăng 2,17%), mà còn tăng cao nhất so với tốc độ tăng trong tháng 12 của mười mấy năm qua! Do giá  tháng 12 tăng cao như vậy, nên tính chung 12 tháng (tháng 12.2007 so với tháng 12.2006), giá tiêu dùng tăng 12,63%, cao nhất  trong 11 năm qua.

Với một số tiền 100 triệu đồng vào cuối năm ngoái, nếu “bỏ ống” thì đến cuối năm nay, tuy vẫn còn nguyên trên danh nghĩa là 100 triệu đồng, nhưng nếu tính giá trị thực (sức mua) cuối năm trước thì còn chưa được 88,8 triệu đồng. Nói một cách hình ảnh là “thuế lạm phát” đã lấy đi mất trên 11,2 triệu đồng. Con số “lừng lững” này cùng với con số nhập siêu khổng lồ (12,45 tỉ USD, bằng 25,6% tổng kim ngạch xuất khẩu) đã có thể bác bỏ được các điều mà một số nhà hoạch định chính sách của các cơ quan chức năng vẫn nói rằng “kinh tế vĩ mô ổn định” hay “lạm phát” và “nhập siêu” vẫn trong tầm kiểm soát.

Hầu hết 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng đều tăng. Điều đó chứng tỏ, bên cạnh những yếu tố mang tính khách quan (như giá cả quốc tế, một số mặt hàng bị ảnh hưởng của thiên tai, dịch bệnh,…) thì không thể không có yếu tố tiền tệ, không thể không có nguyên nhân từ việc điều hành chính sách tiền tệ – một điều mà các nhà hoạch định chính sách của một số cơ quan chức năng, đặc biệt là Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính vẫn cứ muốn “đẩy trách nhiệm” cho nguyên nhân khách quan.

Trong 11 nhóm hàng hóa, dịch vụ, nhóm thực phẩm (chiếm tỷ trọng lớn nhất trong “rổ” hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng) giá tăng cao nhất (tháng 12 tăng tới 4,69%, cả năm tăng tới 21,16%). Nhóm lương thực (nhóm chiếm tỷ trọng lớn thứ hai trong “rổ” hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng) có giá tăng cao thứ ba (tháng 12 tăng 2,98%, cả năm tăng 15,4%). Tình hình này tưởng rằng sẽ làm cho nông dân có lợi, nhưng đó chỉ là “được mùa thì mất giá, được giá thì mất mùa” – điệp khúc lặp đi lặp lại đối với người nông dân, một bộ phận đi trước nhất nhưng lại yếu thế nhất trong kinh tế thị trường, mở cửa, hội nhập.

Giá nhà ở và vật liệu xây dựng (gồm tiền thuê nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng) tháng 12 tăng 3,28%,  cả năm tăng tới 17,12% (cao thứ hai sau nhóm thực phẩm). Thế là nhiều gia đình nếu trước đây sớm “tiến lên” đun nấu gas, dùng điện nhiều hơn thì nay “lùi lại” để đun than tổ ong, còn không khí có ô nhiễm hơn hay không thì đâu có ai nhìn thấy. Giá vật liệu xây dựng tăng cao đã làm cho giá bất động sản tăng kép (tăng do giá đất tăng, tăng do giá xây dựng tăng), khác với các lần sốt trước chỉ có giá đất tăng. Tình hình trên làm cho những người thu nhập thấp khó có khả năng “cải thiện” nhà ở.

Giá phương tiện đi lại, bưu điện tháng 12 tăng 4,38%, nhưng nếu không kể giá bưu điện giảm (- 0,77%) thì giá phương tiện đi lại còn tăng cao hơn nữa, do giá xăng dầu tăng cao. Đây mới là tháng 12 giá xăng dầu trực tiếp tăng (vào cuối tháng 11), nhưng tác động dây chuyền đến các hàng hóa và dịch vụ khác trong thời gian tới sẽ còn rộng, lớn hơn nhiều.

Đáng lưu ý là tốc độ tăng giá tiêu dùng đã cao hơn nhiều so với lãi suất huy động tiết kiệm, nhất là lãi suất huy động tiết kiệm của các ngân hàng thương mại nhà nước (lãi suất cả năm chỉ dưới 8%); ngay các ngân hàng thương mại cổ phần có lãi suất trên dưới 9%/năm thì cũng thấp hơn tốc độ tăng giá tiêu dùng. Có 100 triệu đồng gửi tiết kiệm vào cuối năm ngoái, nếu gửi vào ngân hàng thương mại nhà nước thì cuối năm nay rút ra chỉ được 108 triệu đồng danh nghĩa, nhưng tính theo giá cuối năm ngoái thì chỉ còn 95,9 triệu đồng, lãi đã bị thực âm mất 4,1 triệu đồng; nếu gửi vào ngân hàng thương mại cổ phần (với lãi suất trung bình khoảng 9,5%) thì cuối năm nay rút ra được 109,5 triệu đồng, nhưng nếu tính theo giá cuối năm ngoái thì chỉ còn 97,2 triệu đồng, tức là bị âm mất 2,8 triệu đồng.

Đã có nhiều lý giải về nguyên nhân làm cho giá tiêu dùng năm nay tăng cao. Những nguyên nhân mà một số nhà lãnh đạo các của các cơ quan chức năng đưa ra cũng không sai, nhưng chưa đủ và chưa trúng. Theo chúng tôi, nguyên nhân chính nằm ở chỗ: tầm nhìn còn yếu, dự báo kém, việc điều hành chính sách tiền tệ còn lúng túng, chủ quan,… Đưa hàng trăm nghìn tỉ đồng ra mua USD, chắc chắn làm cho nền kinh tế đô la hóa lớn, nhưng việc hút tiền từ lưu thông về chậm, thì giá cả tăng mạnh là không tránh khỏi.

(Theo Thanh Nien).

Vẻ đẹp quanh ta

Cuộc sống xung quanh có rất nhiều vẻ đẹp, làm cho chúng sáng bừng lên là trách nhiệm của mỗi chúng ta.

Làm đẹp môi trường sống của chính mình là góp phần làm đẹp xã hội. Những thái độ ứng xử trong giao tiếp, rèn luyện nhân cách cá nhân ảnh hưởng rất nhiều đến mỹ quan chung của xã hội.

Buổi trưa chủ nhật, tôi đi ăn đám giỗ ở nhà một người bạn. Cô con gái lớn của chị ra mở cửa, bế cháu bé khoảng tám tháng tuổi. Cô chào tôi: “Cháu chào cô ạ mời cô vào. Mẹ cháu đang ở dưới bếp”. Quay sang cháu bé, cô bảo: “Ạ đi con. Ạ bà đi nào”.

Nhìn cái miệng xinh xinh bập bẹ, mái đầu non tơ cúi xuống theo tiếng “ạ”, lòng tôi rộn lên niềm vui xen lẫn yêu thương.

Tôi chắc rằng bài học khoanh tay, cúi đầu, gọi dạ, bảo vâng, đều được tất cả gia đình trong xã hội áp dụng.

Thường thì đứa trẻ nào ngoan ngoãn, vâng lời biết thưa gửi lễ phép đều nhận lợi từ người đại diện nụ cười hài lòng hoặc cái xoa đầu khen ngợi.

Những bài học làm người ấy không chỉ được dạy trong gia đình mà còn ở trường lớp, nơi định hình nhân cách một đứa trẻ.

Bài học về nhân cách và ý thức của mỗi người

Cha tôi là một người trọng sách. Từ thuở bé, tôi đã được ông luyện cho thói quen đọc và phân tích xem cuốn sách mình đã đọc nói gì. Tâm hồn cao thượng do dịch giả Hà Mai Anh dịch từ nguyên tác nước ngoài là cuốn cha yêu cầu tôi đọc kỹ nhất. Trái tim non nớt của tôi lúc ấy cảm thụ tác phẩm theo kiểu trẻ con: yêu và ghét nhân vật trong truyện một cách rõ ràng. Khi nghe tôi phân tích, cha chỉ mỉm cười tán đồng. Thế nhưng, mỗi khi dắt tôi đi đâu gặp một người, một hoàn cảnh nào đó giống trong truyện, cha luôn nhắc cho tôi nhớ.

Chẳng hạn, một lần cha trông thấy tôi bịt mũi khi có người vào nhà lấy rác. Thế là ông ra tận cửa, phụ người ấy bưng thùng rác. Sau đó, ông bảo tôi: “Con đã đọc truyện về cậu bé con ông bán than roi mà còn có thái độ như thế thật đáng trách. Con phải biết ơn người ta mới phải. Không có chú ấy đổ rác, nhà mình sẽ bẩn và hôi đến thế nào”?

Sau rất nhiều năm, một lần đi nhà sách, thấy cuốn Tâm hồn cao thượng nằm trang trọng trên kệ gỗ, lòng tôi bồi hồi xúc động. Không ít bậc phụ huynh mua cuốn sách này cho con em mình đọc. Hắn cũng như bố mẹ tôi ngày xưa, họ muốn rèn luyện cho con mình một nhân cách tốt, cách ứng xử sao cho đẹp với chính bản thôn và những người xung quanh. Thái độ sống đẹp ở thời nào cũng vậy đều cần thiết cho con người.

Nhắc lại câu chuyện người đổ rác xưa, không phải là không có ý. Một hôm, đi trên đường Phạm Ngũ Lão, TP. Hồ Chí Minh, tôi thấy một tốp người nước ngoài vừa đi vừa nhìn bản đồ. Có lẽ họ tìm địa chỉ nào đó. Thình lình, hai, ba chiếc Dylan phóng tới, trên mỗi xe là một cặp thanh niên, thiếu nữ ăn mặc sang trọng, cười nói ồn ào.

Một cô trên xe uống nước trong chiếc ly giấy to, đột nhiên quăng xuống đường, ngay trước mặt đoàn khách. Nước trong ly văng tung tóe, bắn lên quần áo một vài người. Trước những cặp mắt sửng sốt của du khách, cô gái và cả nhóm cười phá lên, phóng xe vụt đi. Thật không thể tả nổi cảm giác xấu hổ của tôi khi bắt gặp ánh nhìn chê trách của tốp người đó tình cờ hướng vào mình.

Hành động mất văn hóa của nhóm thanh niên ấy khiến tôi nhớ lại thuở còn là hướng dẫn viên du lịch. Có lần, tôi ngượng cứng người trước phản ứng của một vi khách trong đoàn. Lúc đó, chúng tôi đang ăn sáng tại một quán nhỏ ờ Dầu Giây, Đồng Nai. Đoàn gồm một số nhà báo, phóng viên truyền hình Thổ Nhĩ Kỳ đến làm phim về đất nước và con người Việt Nam. Không đi theo chương trình dành cho tham quan, du lịch, họ tự vạch tour riêng và yêu cầu chúng tôi hỗ trợ.

Theo ý của họ, chúng tôi ăn sáng ở một quán nhỏ nhếch nhác tồi tàn. Tôi thật ái ngại vì đám ruồi nhặng cứ bay lởn vởn trước mặt. Nhẫn nại và nhanh chóng ăn xong tô cháo, tôi lấy khăn giấy lau miệng, sau đó vo tròn, quăng xuống đất.

Lát sau, khi lên xe, Nahan Robinson, cô phóng viên truyền hình, kín đáo đưa chiếc túi nylon cho tôi, khẽ nói: “Lát nữa, có rác thì bỏ vào đó, đừng vất trên sàn xe hoặc xuống đường”. Cô mỉm cười một cách tế nhị, hướng về phía quán, thì thồm tiếp: “Tại sao các bạn không giữ gìn môi trường sống của chính mình nhỉ? Giá như quán đó có thùng đựng rác ở mỗi bàn…”

Mặt tôi đỏ bừng, tay chân tê cứng và nước mắt trào ra vì xấu hổ. Hai chữ “giá như” của Nahan còn gom cả tôi vào đó nữa. Giá như tôi không quăng chiếc khăn giấy xuống đất. Tại sao tôi lại làm thế? Vì đám rác có sẵn dưới đất ư? Vì quán tính? Thói quen? Hay vi ý thức của tôi kém?

Tóm lại, vì bất cứ ly do gì thì tôi đã gây ấn tượng xấu cho đoàn khách nước ngoài.

Lần khác, tôi và nhóm đồng nghiệp đi nghỉ mát ở Nha Trang. Hôm ấy, chúng tôi ra tham quan Hòn Tằm trên chuyến tàu du lịch khá đông người.

Buổi trưa, tàu neo giữa một vùng biển lặng để ăn trưa và cho du khách câu cá. Trong khoang tàu sạch sẽ, có thùng rác để sẵn nhưng một vài người đã vui tay vứt vỏ lon nước ngọt, bánh trái xuống biển.

“Để dụ cá đến”, họ nói vậy và cười đùa ầm ĩ. Đứng trên boong, tôi nhìn thấy một thanh niên và người thiếu nữ sải tay bơi theo đám rác của nhóm người nọ. Họ vớt hết đám rác ấy và bơi ngược về tàu, leo lên, bỏ vào thùng rác. Xong, họ lại nhảy xuống, vẫy vùng trong làn nước mát. Hành động của họ khiến nhóm người kia hơi sững sờ, bẽn lẽn.

Một người trong nhóm đột nhiên nhảy xuống biển, bơi theo đôi thanh niên, thiếu nữ kia. Tôi và mọi người trên tàu e ngại, sợ rằng sẽ có chuyện không hay xảy ra.

Mọi người chăm chú nhìn theo, chuẩn bị can thiệp. Nhưng kìa, anh thanh niên bơi theo, khi đuổi kịp đôi bạn ấy, đã cười. Có lẽ ba người đang cảm ơn nhau vì tôi thấy ba bàn tay của họ đưa lên, đập vào nhau theo kiểu đồng tình. Một cách hành xử đẹp. Nhiều con người trên tàu thở phào nhẹ nhõm.

Phải chăng vẻ đẹp của tâm hồn tùy thuộc vào môi trường sống

Bài học về giữ gìn sạch đẹp môi trường đang sống, đồng thời tôn thêm vẻ đẹp nhân cách của chính mình đã theo tôi đi mọi ngả đường từ trong nước ra nước ngoài.

Có lần, ở Sân bay Incheon, Hàn Quốc, tôi những thấy một cặp vợ chồng người Mỹ đang ăn sáng trong một nhà hàng nhỏ. Đứa con nhỏ khoảng ba tuổi đang giãy giụa, không chịu ta có uống sữa. Bé đưa tay gạt ra khiến cái ly đổ ụp xuống đất.

Người phục vụ vội cầm khăn lau chạy ra. Ông chồng đưa tay ngăn lại. Cầm chiếc khăn trên tay người phục vụ, ông ngồi xuống lau chỗ sữa đổ trên nền nhà. Sau đó, vì khách còn mang chiếc khăn lau vào tận bên trong rồi mới trở lại chỗ ngồi. Một thái độ cư xử thật đẹp.

Lần khác, tại khu vui chơi Disneyland ở California (Mỹ), tôi đang bỏ que kem vào thùng rác thì có bàn tay nhỏ xíu khều khều tay tôi. Đó là một bé gái khoảng bốn tuổi, tay cầm vỏ kẹo.

Em đề nghị tôi bế lên để tự tay bỏ vỏ kẹo vào thùng rác. Xong, em vui vẻ cảm ơn tôi rồi chạy về phía bố mẹ đang đứng gần đó. Họ đang quan sát em và tôi với nụ cười thân thiện. Suốt ngày hôm ấy, tôi đi chơi trong khu Disneyland với cảm giác thật thư thái, yêu đời.

Sao việc giữ gìn sạch đẹp môi trường lại liên quan đến nhân cách của con người. Trong một xã hội nhiều thành phần, nhiều giai cấp, đòi hỏi phải có ứng xử đồng bộ là điều rất khó.

Bạn không thể yêu cầu người lao động nghèo khó phải có chung cảm nghĩ, cách ứng xử như những ai dư dả, sống trong ngôi nhà khang trang.

Môi trường sống ảnh hưởng rất nhiều đến cách ghi nhận sự việc của mỗi người. Có những Nhà hàng, Khách sạn sang trọng, nơi mọi người đi nhẹ, bước khẽ, nói thầm. Cũng có những quán lẩu vệ đường, nơi người ta có thể hò hẹn cụng ly chan chát, trả lời điện thoại ầm ĩ thâm chí khạc nhổ ngay dưới chân. Vấn đề là bạn có hò hét theo họ không? Có to tiếng, chửi thề như họ không?

Tôi cho rằng với những người trình độ văn hóa thấp, môi trường sống thiếu thốn đủ điều, tiếng chửi thề giống như cách biểu lộ cảm xúc. Bạn có thể nhìn, nghe mấy người khuân vác, các chị bán tôm cá, những người quét dọn chợ… chửi nhau ầm ĩ bằng những ngôn từ sống sượng mà không có cảm giác khó chịu, e dè gì lắm.

Trình độ như thế, cảm nhận như thế thì hành xứ phải như thế, không có gì lạ. Thế nhưng, với những người có trình độ văn hóa cao, cuộc sống tương đối đầy đủ, tiếng chửi thề nói lên điều gì?

Trong một lần ngồi cùng bạn bè ở nơi được mệnh danh là dành cho giới văn nghè sĩ ở đường Trần Quốc Thảo, TP. Hồ Chí Minh, tôi chứng kiến nhiều thái độ hành xử không đẹp của một số người trong giới này.

Một anh nhà thơ luôn vỗ ngực tự xưng mình là thiên tài, khen mình là cao cấp, văn chương trên đỉnh, nhưng hễ mở miệng được mười từ thì câu chửi thề lại nhảy tọt ra.

Một anh họa sĩ bình phẩm về đồng nghiệp bằng những ngôn từ dè bỉu, thò tục.

Một nhạc sĩ đàn anh chửi tác phẩm của đờn em là rác, phế thải.

Một cô ca sĩ gọi đối thủ của mình là con này, con kia…

Tóm lại, những ngôn ngữ, hành động này thật một trời một vực với những gì họ đã phổ biến trong xã hội. Tòi tự hỏi, nếu độc giả, khán giả chứng kiến, nghe được những gì thần tượng cua mình “phun” ra trong bàn nhậu, họ sẽ thất vọng đến mức nào?

Đến đây, tôi chợt nhớ tới chuyện của một đôi vợ chồng nhà báo. Cả hai đều khá nổi tiếng trong ngành nghề và xã hội. Nhìn họ, không ai có thể tin được khi cãi nhau, hai người dùng ngôn từ đến “rắn ngoài đường cũng phải trốn vào hang”.

Một anh thợ hồ đang sửa nhà cho họ phải ngạc nhiên thốt lên: “Các bóc ấy cãi nhau một tiếng đồng hồ mà bằng chúng cháu chửi nhau cả năm”. Cái lắc đầu của anh thợ hồ như nói lên cảm giác thất vọng: Giới trí thức, thượng lưu mà thế này ư?

Điều này cho thấy, việc giữ gìn vẻ đẹp nhân cách của chính mình hết sức quan trọng. Làm một người bình thường trong xã hội đã khó, huống gì làm người của quần chúng, là mẫu mực để nhiều người hướng đến, noi theo. Một lỗi như của bạn cũng khiến mọi người bình phẩm, chê trách.

Chẳng hạn như chuyện của Mai Phương Thúy. Cô là hoa hậu di làm từ thiện nhiều nhất trong số các hoa hậu Việt Nam từ trước đến giờ. Như chúng ta biết, có rất nhiều người làm từ thiện trên cả nước. Thế nhưng, nói đến tên họ, ít người quan tâm.

Những nhàn vật nổi tiếng như Mai Phương Thúy, Việt Trinh, Phương Thanh… đi đến đâu là có hàng nghìn con mắt nhìn vào. Vì thế mới có chuyện người ta chè: “Cô bé Mai Phương Thúy đi thăm hỏi người bị tai nạn sập cầu Cần Thơ mà diện áo bà ba hồng, đeo hoa tai hồng, kỳ qúa”?. Vẻ đẹp bề ngoài không phù hợp với bối cảnh đã vô tình tước đi ý nghĩa của hành động đẹp mà cô làm.

Như thế, vẻ đẹp nhân dáng rốt quan trọng đối với mỗi người. Nói đúng hơn, phong thái và ngôn ngữ của một người thường giúp hoặc hại người ấy tùy theo cách sử dụng.

Vừa qua, trong cuộc thi Hoa hậu Thế giới người Việt, Ngô Phương Lan đã làm hòi lòng hàng triệu người xem nhờ thái độ lịch thiệp, khiêm tốn, dịu dàng. Vẻ đẹp bên ngoài lẫn cách ứng xứ khéo léo đã giúp cô đoạt được ngôi vi Hoa hậu giữa một rừng sắc đẹp ngang ngửa với mình.

Ngoài vẻ đẹp nhân cách và hình thức, vẻ đẹp của lòng vị tha cũng rất được hâm mộ. Chẳng hạn phong trào “cái ôm miễn phí” đem lại sự thân thiện cho cộng đồng do Lê xuân Khoa, Nguyễn Hoài Nghĩa khởi xướng. Chuyến chạy bộ xuyên Việt nhằm ủng hộ bệnh nhân ung thư của Lê Việt Hồng, vượt lên số phận, giúp đỡ người nhiễm HIV của Phạm Thị Huệ. Còn rất nhiều nghĩa cử, phong cách sống vì mọi người mà chúng ta thường gọi là cử chỉ đẹp trong xã hòi. Như thế, giữa những hạt sạn đen, xám của cái chưa đẹp nhiều viên ngọc trắng sáng của cái đẹp vẫn bật lên, rạng ngời trong cuộc sống.

Vẻ đẹp của tâm hồn tùy thuộc môi trường sống

Trở lại với hôm tôi đi nhà sách. Thật vui mừng khi biết lượng sách dạy làm người, sách sống đẹp bán rất chạy. Không chỉ phụ huynh mua cho con cái, ngay cả họ cũng muốn rèn luyện bản thân để tốt đẹp hơn.

Chị Huỳnh Thị Lý, nhà ở đường Nguyễn Kim, Quận 10, TP. Hồ Chí Minh, chia sẻ: “Một hôm đứa con trai sáu tuổi của tôi nói: sao đi siêu thị, má không thay đồ đẹp mà mặc đồ bơi con thấy kỳ lắm. Tôi giật mình, vội trả lời cho qua, nhưng sau đó không bao giờ ra đường mà y phục chưa chinh tề. Hôm nay đi mua sách cho cháu, nhân tiện tôi chọn mấy cuốn dạy cách ứng xử, giao tiếp về đọc để biết cách cư xử lẫn dạy con sau này”.

Con mắt của đứa trẻ sáu tuổi biết đánh giá thế nào là cái đẹp, hẳn cũng sẽ thắc mắc trước những cảnh khoe nội y, vứt rác, chửi bới, văng tục trên đường. Tùy theo sự giải thích của người lớn, bé có thể loại bỏ những hành động ấy trong hành trình lớn lên hoặc bắt chước như chuyện hiển nhiên.

Thay cho lời kết chúng ta có thể khái quát rằng Vẻ đẹp quanh ta chính là những gì đang hiện hữu quanh ta, cảm nhận được rằng chúng có sẵn, có nhiều, nhưng để đánh thức, bừng sáng chúng lên hay ngày một lụi tàn đó cũng chính là trách nhiệm của mỗi cá nhân – con người, mỗi công dân trong xã hội mà chúng ta đang sống.

Theo  Tạp chí Phong cách

Người xưa có luận nơi thành bại?

Cùng với sự phát triển của nhịp sống hiện đại, vai trò cá nhân càng được nhìn nhận đúng đắn và đề cao hơn trong xã hội. Chúng ta mỗi ngày đề cao sự thành đạt ở mọi lĩnh vực khác nhau như tín hiệu tốt đẹp cho tương lai. Có lúc vì buồn, có lúc vì vui, có lúc vì hoài niệm, thong thả nghĩ và bất chợt hỏi: “Người xưa có luận nơi thành bại không”?

Quan niệm nghe có vẻ cũ kỹ nhất, nhưng bền vững nhất và mang tính khuôn mẫu nhất cho sự thành bại là “chính tâm, minh đức, thiện ý, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Những phẩm chất được chuẩn bị cho từng con người ở từng bước đường cụ thể, quả không đơn giản chút nào. Quân tử phải hội đủ ba yêu cầu “chính tâm, minh đức, thiện ý” để có thể “tu thân” và nếu có thể thì thực hiện ba việc tiếp theo “tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Thế nhưng, cái sự đòi hỏi này quá lớn, lịch sử loài người chỉ có vài ba vĩ nhân như vậy.

Thành công của cổ nhân tùy từng thời mà có những đánh giá riêng biệt. Thành công có khi trọng danh vọng, thành công có khi trọng đức hạnh, thành công có khi trọng chữ nghĩa. Truyền thống người phương Đông hiếu học, nên sĩ tử luôn được đặt lên hàng đầu về sự “thành”. Trong bài “Đi thi tự vịnh”, Nguyễn Công Trứ cho rằng: “Đã mang tiếng ở trong trời đất. Phải có danh gì với núi sông”. Bảng vàng đề tên là một trong những tiêu chí thành đạt khi xưa. Bút nghiên anh đồ đợi đến ngày đỗ đạt vinh danh cả họ hàng tôn tộc. Thử hỏi cái ngày quan trạng về làng bái tổ, sao không nở mặt nở mày chứ!

Ý nghĩa thành đạt của người xưa gắn liền với giúp nước giúp đời, chứ không phải khư khư lo nồi cơm niêu canh nhà mình. “Quốc gia lâm nguy, thất phu hữu trách”, mỗi khi non sông bị giày xéo thì chuyện đánh đuổi ngoại xâm trở thành ước nguyện của bao người, như Đặng Dung cảm khái “quốc thù vị báo đầu tiên bạch” hay như Phạm Ngũ Lão đau đáu “làm trai nợ nước còn chưa trả, nhắc chuyện Vũ Hầu thẹn trí mưu”. Hình ảnh người anh hùng dọc ngang trừ gian diệt bạo, đánh đông dẹp bắc cũng trở thành một biểu tượng sống ở chế độ phong kiến. Nữ sĩ Hồ Xuân Hùng đứng trước đền thờ Sầm Nghi Đống ta thán rằng: “Ví đây đổi phận làm trai được. Thì sự anh hùng hổ bấy nhiêu” hoặc nhà thờ Nguyễn Đình Chiểu viết “Lục Vân Tiên” cũng gửi gắm: “Nhớ câu kiến nghị bất vi. Làm người thế ấy cũng phi anh hùng”. Vậy nhưng, vượt lên trên hết, người xưa công bằng ghi nhận sự thành bại của một người nằm ở bản lĩnh đương đầu với khó khăn thách thức nếu phải đường đời bằng phẳng hết, anh hùng hào kiệt có hơn ai”. Thiền sư Quảng Nghiêm ( 1121- 1190) nương thân nơi cửa Phật vẫn có cái nhìn rộng lớn ra thế giới: “Chí trai hướng tới vầng cao thẳm. Chớ hướng Như Lai tiếp lộ trình”. Sống hết lòng, sống tận tụy với cuộc đời bằng một ý thức vươn lên thì sự thành đạt cũng hiện rõ dần. Người nào muốn bay và dám bay thì chang lo gì không có chân trời, dẫu có lúc bẽ bàng thua thiệt, dẫu có lúc áo gấm đi đêm!

Không quá chú trọng đến luân hồi hay kiếp sau, nhưng nói gì thì nói, sự thành đạt của một đời người là để lại tiếng thơm cho con cháu. Sinh thời luôn trắc ẩn “non thấp non cao mây thuộc, cây cứng cây mềm gió hay”, những năm tháng hiến dâng cao đẹp của danh nhân Nguyễn Trãi khiến hậu bối tin rằng ngay cả trong bi kịch oan án Lệ Chi Viên thì ông cũng chẳng mong gì hơn là vàng vua Lê Thánh Tông thay mặt hậu thế ban tặng Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo”. Cũng như thi hào Nguyễn Du lấp lánh đi qua cõi người “mua vui cũng được một vài trống canh” vẫn xa váng tự hỏi mình có đủ tài đức để “bất tri tam bách dư niên hậu, thiên hạ hà nhân khấp Tố Như”.

Bây giờ kinh tế thị trường, nhiều thứ đều quy đổi dễ dàng ra “đô”, nhưng người giàu chưa chắc đã là người sang, bộ quần áo thời trang hay mùi nước hoa đắt tiền chưa chắc nói được gì về phẩm giá…

Một câu “người chết để tiếng” vẫn chưa thể nào lý giải hết thuật luận thành bại của cổ nhân. Thời gian cứ trôi lững thững xóa nhòa bao nhiêu vương triều hưng phế, những ngọn cỏ thấp hèn đã đắp lên bao nhiêu mộ lính, trùm kín bao nhiêu lăng vua. Có người tài sản không sao đếm hết cũng chỉ là trọc phú trong mắt những kê ton hót vay mượn. Có người quyền uy ngất trời cũng chỉ như bạo chúa một thời. Cuộc sống xô đẩy bon chen nhưng cũng rất công bằng, không có đốm sáng nào không được nhìn thay, không con người đúng nghĩa nào bị lãng quên. Bây giờ kinh tế thị trường, nhiều thứ đều quy đổi dễ dàng ra “đô”, nhưng người giàu chưa chắc đã là người sang, bộ quần áo thời trang hay mùi nước hoa đắt tiền chưa chắc nói được gì về phẩm giá. Nhân vật Lã Bất Vi sống cách chúng ta hơn 2000 năm có thể mang ra làm một minh chứng thuyết phục nhất. Xuất thân vàng kho bạc đống, thời trẻ Lã Bất Vi hỏi người xung quanh: “Làm ruộng lợi bao nhiêu? Đáp: Gấp mười lần! Buôn bán lợi bao nhiêu? Đáp: Gấp trăm lần! Đưa một người lên làm vua lợi bao nhiêu? Đáp: Không tính được”! Và nhân vật kỳ ảo Lã Bất Vi đã thực hiện chuyến “buôn vua” độc nhất vô nhị. Sau mấy mươi năm làm Thừa tướng nước Tần “dưới một người, trên muôn người”, Lã Bất Vi bị luận tội thảm khốc. Bài học thành đạt “vinh quang tột cùng mà cũng tột cùng cay đắng, ngoảnh đầu nhìn không một bóng thân nhân” của Lã Bất Vi sẽ còn được bàn cãi trong nhiều thế kỷ tiếp nữa, nhưng cuốn sách “Lã Thị Xuân Thu” mà Lã Bất Vi dày công biên soạn để lại cho hôm nay nhiều suy ngẫm quý giá về sự thành bại. Ví dụ, trong “Mạnh xuân kỷ” khuyên nhủ: “Những kẻ phú quý trên đời này phần nhiều nhận thức hồ đồ với thanh sắc mùi vị. Ngày đêm theo đuổi những thứ ấy nếu may mà vớ được thì khó lòng tự kiềm chế, khó lòng tự kiềm chế thì sinh mệnh và thiên tính sao có thể khỏi tổn thương được? Giàu sang mà không hiểu đạo lý, giàu sang ấy thành ra mối họa hoạn, thì chẳng bằng cứ nghèo hèn” hoặc trong “Trọng xuân kỷ” nhắc nhớ: “Cầu lấy công danh bằng con đường chính đáng, thì công danh không thể nào thoát nổi, như dựng cột lên thì ắt có bóng, cất tiếng hô thì ắt có âm vang vậy”!

Người xưa luận thành bại đã như chuyện… ngày xưa. Còn bây giờ, có thể vì ham hố tiến thân, có thể vì khoa trương khoe mẽ, xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỷ XIX xuất hiện không biết bao nhiêu kiểu chạy chức, chạy quyền, chạy học vị, chạy giải thưởng, chạy danh hiệu… Lặng lẽ nghĩ mà kinh, càng nghĩ càng kinh?

Theo  Cuốn “Sống chậm thời @”
%d bloggers like this: