Dân tộc Xtiêng

Dân tộc Xtiêng có hơn 67.000 người. Đồng bào cư trú tập trung tại tỉnh Bình Phước và một phần sinh sống ở Đồng Nai và Tây Ninh. Có thể phân biệt hai nhóm Xtiêng là Bù Đéc và Bù Lơ. Nhóm Bù Đéc ở vùng thấp, biết làm ruộng nước và dùng trâu, bò kéo cày từ khá lâu. Nhóm Bù Lơ ở vùng cao, làm rẫy là chủ yếu, sống gần gũi với người Mnông và người Mạ. Dân tộc Xtiêng còn có tên gọi là Xa-điêng. Tiếng Xtiêng thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer.

Ngày nay người Xtiêng ở nhiều nơi đã định canh định cư, từng gia đình nhỏ làm nhà ở riêng. Vùng cao ở nhà trệt, vùng thấp ở nhà sàn. Họ đều là họ phổ biến khắp vùng Xtiêng. Làng Xtiêng có truyền thống tự quản, đứng đầu là một ông già am hiểu tập tục, có uy tín lớn, tháo vát và thường là người giàu có ở làng. Mức giàu được tính bằng tài sản như: trâu, bò, chiêng, cồng, ché, vòng trang sức…

Thông thường con trai từ tuổi 19-20, con gái từ tuổi 15-17 bắt đầu tìm bạn đời. Sau lễ cưới, cô dâu về nhà chồng hoặc chú rể về ở đằng vợ.

Trang phục của người Xtiêng khá đơn giản, đàn bà mặc váy, đàn ông đóng khố. Mùa đông người ta choàng một tấm vải để chống rét. Người Xtiêng để tóc dài búi sau gáy, dái tai xâu lỗ để đeo hoa tai bằng gỗ hay ngà voi và xăm mặt, xăm mình với những hoa văn giản đơn. Mọi người nam, nữ, già, trẻ đều thích đeo các loại vòng. Trẻ em còn nhỏ đeo lục lạc ở hai cổ chân.

Người Xtiêng quan niệm ”vạn vật hữu linh”, tin vào sức mạnh huyền bí của sấm, sét, trời, đất, trăng, mặt trời. Tính chất thiêng liêng và quyền uy của thần được quy ước bằng vật hiến sinh màu trắng : gà trắng, lợn trắng, trâu trắng. Đồng bào tính tuổi theo mùa rẫy.

Người Xtiêng ưa thích âm nhạc, nhạc cụ thường thấy nhất là bộ chiêng 6 cái, bộ cồng 5 cái. Chiêng không được gõ ở ngoài nhà, trừ ngày lễ đâm trâu. Chiêng dùng trong hội lễ, cả trong bộc lộ tình cảm, hòa giải xích mích giữa các gia đình. Ngoài chiêng cồng còn có khèn bầu, sáo v.v… cũng được đồng bào ưa thích. Cuối mùa khô, đồng bào hay chơi thả diều.

(Theo Bao Đảng cộng sản Việt Nam)

Advertisements

Dân tộc Sán Dìu

Dân tộc Sán Dìu có khoảng 126.000 người, phân bố ở miền trung du thuộc các tỉnh Quảng Ninh, Hưng Yên, Bắc Giang, Phú Thọ, Bắc Cạn, Thái Nguyên và Tuyên Quang. Dân tộc Sán Dìu còn có tên gọi khác là: Sán Dẻo, Trại, Trại Đất, Mán Quần cộc. Tiếng Sán Dìu thuộc nhóm ngôn ngữ Hán.

Người Sán Dìu chủ yếu làm ruộng nước, có một phần nương, soi, bãi. Thêm vào đó, còn có chăn nuôi, khai thác lâm sản, đánh bắt nuôi thả cá, làm gạch ngói, rèn, đan lát…Từ lâu đời, người Sán Dìu đã sáng tạo ra chiếc xe quệt (không cần bánh lăn) dùng trâu kéo để làm phương tiện vận chuyển. Hình thức gánh trên vai hầu như chỉ dùng cho việc đi chợ.

Hàng ngày người Sán Dìu dùng cả cơm cả cháo, đồ giải khát thông thường cũng là nước cháo loãng.

Trang phục của người Sán Dìu đã và đang đổi thay, gần giống trang phục người Kinh. Phụ nữ Sán Dìu có tập quán ăn trầu và thường mang theo mình chiếc túi vải đựng trầu hình múi bưởi có thêu nhiều hoa văn sặc sỡ, và kèm theo là con dao bổ cau có bao bằng gỗ được chạm khắc trang trí đẹp.

Người Sán Dìu ở thành từng chòm xóm nhỏ. Đồng bào thường ở nhà trệt, mái lợp rạ, hoặc tranh, ngói, tường trình hay xây gạch mộc…

Trong nhà, người chồng (cha) là chủ gia đình, con theo họ cha, con trai được thừa hưởng gia tài. Cha mẹ quyết định việc cưới gả cho con. Con trai con gái phải được xem số, so tuổi trước khi nên duyên vợ chồng.

Việc ma chay cũng qua nhiều lễ thức. Từ sau 3 năm, người chết được bốc cốt-cải táng, và đây là một dịp vui.

Người Sán Dìu thờ cúng tổ tiên, Táo quân, thổ thần, nhiều nhà lập bàn thờ bà Mụ bảo hộ trẻ con… Trong một năm, đồng bào có các lễ: Thượng điền, hạ điền, cơm mới, cầu đảo v.v…gắn theo chu kỳ sản xuất. Họ còn thờ cả Phật bà Quan âm, Tam Thánh, tổ sư của mình nữa.

Thơ ca dân gian của người Sán Dìu phong phú, việc dùng thơ ca trong sinh hoạt hát đối nam nữ (soọng cô) rất phổ biến. Truyện kể, chủ yếu truyện thơ, khá đặc sắc. Các điệu nhảy múa thường xuất hiện trong đám ma. Nhạc cụ có tù và, kèn, trống, sáo, thanh la, não bạt cũng để phục vụ nghi lễ tôn giáo. Nhiều trò chơi của dân tộc được đồng bào ưa thích là: đi cà kheo, đánh khăng, đánh cầu lông kiểu Sán Dìu, kéo co.

(Theo Bao Đảng cộng sản Việt Nam)

Dân tộc Thổ

Dân tộc Thổ có hơn 68.000 người, sinh sống ở miền tây tỉnh Nghệ An. Người Thổ có các nhóm địa phương là: Kẹo, Mọn, Cuối, Họ, Tày Poọng, Đan Lai, Ly Hà. Tiếng Thổ thuộc nhóm ngôn ngữ Việt-Mường.

Người Thổ làm rẫy trên cả đất dốc, cả đất bằng, trồng lúa và gai là chính. Trong canh tác lúa, ngoài cách thức chọc lỗ tra hạt, đồng bào còn gieo vãi và dùng cày, bừa để lấp đất sau khi gieo. Cây gai cho sợi đan nhiều vật dụng cần thiết: túi, võng, lưới bắt cá, vó, lưới săn thú, v.v… Một tấm lưới săn thú cần đến 30-40 kg sợi gai. Cá, chim thú là nguồn thực phẩm quan trọng đối với người Thổ và đồng bào có kinh nghiệm săn bắt, đánh bắt cá. Bên cạnh đó, rừng cung cấp các loại rau, quả, củ làm thức ăn thông thường cũng như khi đói kém.

Xưa người Thổ ở nhà sàn, nay hầu hết đã ở nhà trệt. Đồng bào không có nghề dệt vải. Đồ mặc có nơi giống như y phục của người Kinh nông thôn nửa thế kỷ về trước, có nơi phụ nữ dùng cả váy mua của người Thái. Ở vùng Thổ phổ biến tập quán phụ nữ đội khăn vuông trắng, còn khăn tang là khăn trắng dài.

Trong làng người Thổ, quan hệ gắn bó giúp đỡ lẫn nhau là nếp sống lâu đời. Theo tục cũ, toàn bộ đất đai, rừng núi, sông suối là của chung dân làng, mỗi người được quyền quản lý khi đang gieo trồng, được quyền khai thác khi là dân sống trong làng.

Người Thổ có tục “ngủ mái”: nam nữ thanh niên được nằm tâm tình với nhau, nhất là vào dịp tết, lễ hội, tuy nhiên không được có hành vi thiếu đúng đắn bởi dư luận và luật tục rất nghiêm minh. Từ những đêm ”ngủ mái”, họ chọn bạn trăm năm. Trong hôn nhân, nhà trai phải tốn không ít tiền của và trước khi cưới, chàng trai phải năng đến làm việc cho nhà vợ tương lai.

Đám tang của người Thổ trước kia có nhiều nét độc đáo. Họ dùng quan tài độc mộc, khiêng người chết đi chôn thì để chân hướng về phía trước, còn mộ thường để chân hướng xuôi theo chiều nước chảy.

Người Thổ thờ cúng nhiều ”thần” và ”ma”, đồng thời thờ cúng những vị tiền bối có công khai khẩn đất đai lập làng hay đánh giặc. Các làng đều có một số đền thờ thần. Hàng năm, làng có lễ xuống đồng mở đầu vụ sản xuất mới, có lễ ăn cơm mới, kết thúc một mùa lúa. Trong nhà, mỗi khi trẻ con đau ốm có lễ cúng bà mụ, vào dịp tết, lễ hoặc có người lớn bị bệnh đều làm lễ cúng vía, vì họ tin ai cũng có vía.

Xưa kia người Thổ có nhiều ca dao, tục ngữ, câu đố, truyện cổ, các điệu ca hát của người lớn, những bài đồng dao của trẻ em, v.v… Song vốn văn nghệ dân gian Thổ đến nay đã bị quên lãng, mất mát nhiều.
(Theo Báo Đảng cộng sản Việt Nam)

Dân tộc Tày

Dân tộc Tày là một cộng đồng thuộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái có số dân khoảng 1.500.000 người, đông nhất trong các dân tộc thiểu số nước ta.

Dân tộc Tày còn có tên gọi khác là Thổ và bao gồm cả các nhóm: Ngạn, Phén, Thu Lao, Pa Dí. Phần đông người Tày cư trú ven các thung lũng, triền núi thấp ở các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Quảng Ninh và một số vùng thuộc Bắc Giang v.v…

Người Tày có một nền nông nghiệp cổ truyền khá phát triển với đủ loại cây trồng như lúa, ngô, khoai… và rau quả mùa nào thức đó.

Bản của người Tày thường ở chân núi hay ven suối. Tên bản thường gọi theo tên đồi núi, đồng ruộng, khúc sông. Mỗi bản có từ 15 đến 20 nóc nhà. Bản lớn chia ra nhiều xóm nhỏ. Nhà ở có nhà sàn, nhà đất và một số vùng giáp biên giới có loại nhà phòng thủ. Trong nhà phân biệt phòng nam ở ngoài, nữ ở trong buồng. Người Tày thường mặc quần áo vải bông nhuộm chàm, áo phụ nữ dài đến bắp chân, ống tay hẹp, xẻ nách ở bên phải, cài 5 khuy.

Gia đình người Tày thường quí con trai hơn và có qui định rõ ràng trong quan hệ giữa các thành viên trong nhà. Vợ chồng yêu thương nhau, ít ly hôn. Đã từ lâu không còn tục ở rể.

Thờ cúng tổ tiên là nghi lễ tôn giáo hàng đầu của người Tày. Nơi thở tổ tiên chiếm vị trí trung tâm, tôn nghiêm nhất trong nhà. Chiếc giường trước bàn thờ để không, khách lạ không được ngồi, nằm lên đó. Ngoài ra, có những điều kiêng kị như không đặt chân lên khúc củi đang cháy trong bếp lửa hay đặt chân lên thành bếp. Những người đi đám ma về chưa tắm rửa sạch sẽ không được nhìn vào gia súc, gia cầm. Người mới sinh con không được đến chỗ thờ tổ tiên.

Người Tày có một nền văn nghệ cồ truyền phong phú, đủ các thể loại, thơ, ca, múa nhạc, có cả múa rối. Tục ngữ, ca dao chiếm một khối lượng đáng kể. Các điệu dân ca phổ biến nhất là hát lượn, hát đám cưới, ru con.

Người Tày mến khách, cởi mở, dễ làm quen và thích nói chuyện. Họ rất trọng người cùng tuổi, khi đã kết nghĩa bạn bè thì coi nhau nhanh em ruột thịt, bà con thân thích của mình.
(Theo báo Đảng cộng sản Việt Nam)

TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ KHI THỰC HIỆN.

  Đối với doanh nghiệp Việt Nam, khái niệm trách nhiệm xã hội còn khá mơ hồ, một số nơi còn hiểu theo nghĩa truyền thống, nghĩa là tham gia giải quyết các vấn đề xã hội mang tính nhân đạo, từ thiện.  
Đọc tiếp

Động thái chứng khoán

 Ngày 4.12 – sau một ngày có thông tin Vietcombank (VCB) đấu giá cổ phần lần đầu ra công chúng (IPO) vào 26.12.2007 – chỉ số giá chứng khoán ở sàn TP.HCM (VN-Index) còn ở mức 988,91 điểm, thì đến ngày 17.12 chỉ còn 911,2 điểm, thấp xa so với 950 điểm mà nhiều dự đoán trước đó đã cho là “đáy” của đợt điều chỉnh này.

Tính chung 9 phiên vừa qua, VN-Index đã giảm tới 77,71 điểm, tức giảm 7,86%. Tại sàn Hà Nội, chỉ số Hastc-Index ngày 4.12 còn ở mức 349,44 điểm, thì ngày 17.12 chỉ còn 318,4 điểm – tính chung 9 phiên đã giảm tới 31,04 điểm, tức giảm 8,88%! Cùng với sự sụt giảm của giá chứng khoán là sự sụt giảm mạnh của khối lượng và giá trị giao dịch.

Diễn biến trên thị trường chứng khoán mấy ngày qua có ba điểm đáng lưu ý :

Thứ nhất, các năm trước chỉ số giá chứng khoán thường tăng vào cuối năm. Như cuối năm 2006, VN- Index đạt 751 điểm, tăng 477 điểm so với mức 304 điểm vào đầu năm và  tăng 352 điểm so với mức đáy 399 điểm vào ngày 2.8.2006. Năm nay, VN – Index hiện 911,2 điểm, chỉ tăng 160 điểm so với mức 751 điểm đầu năm, chỉ tăng 33 điểm so với mức “đáy” 878 điểm vào ngày 12.8. Cuối năm ngoái, so với đỉnh cao 632 điểm mà giữa năm đạt được đã tăng 119 điểm; năm nay lại giảm 264 điểm so với đỉnh cao 1.175 điểm đạt vào ngày 12.3.2007.

Thứ hai, chỉ số giá chứng khoán xuống khi có thông tin các quỹ đầu tư nước ngoài hiện đang có 3 – 4 tỉ USD đầu tư gián tiếp đang chờ giải ngân, cùng những thông tin về lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, lượng kiều hối, chi tiêu của khách du lịch… đang đổ dồn vào Việt Nam với những kỷ lục mới, nhưng lượng vốn mua chứng khoán của nhà đầu tư nước ngoài trong thời gian qua vừa giảm mạnh so với trước đây, vừa thấp hơn lượng bán ra.

Thứ ba, VCB chuẩn bị IPO vào ngày 26.12, với mức giá khởi điểm là 10 chấm, trong khi nhiều nhà đầu tư cho rằng mức giá trúng thầu bình quân có thể lên đến 12 -13 chấm, thậm chí còn vượt mức giá đang niêm yết của ACB để đạt trên 17 chấm.

Vậy các yếu tố gì đã làm cho chỉ số giá chứng khoán xuống mạnh như vậy? Có thể có 4 yếu tố tác động:

Một, chỉ còn hơn mươi phiên giao dịch nữa là đến thời điểm 31.12, thời hạn cuối phải đưa tỷ lệ cho vay đầu tư chứng khoán về dưới 3% tổng dư nợ tín dụng theo Chỉ thị 03 của Ngân hàng Nhà nước, trong khi còn nhiều ngân hàng thương mại cổ phần có tỷ lệ cho vay đầu tư chứng khoán chiếm trên 3% tổng dư nợ tín dụng. Mặc dù nhiều ngân hàng thương mại cổ phần thời gian qua đã hạ thấp lãi suất cho vay, nới lỏng điều kiện cho vay đầu tư vào các kênh khác (như cho vay bất động sản, cho vay tiêu dùng…) để tăng tổng dư nợ, nhằm giảm tỷ trọng dư nợ cho vay chứng khoán trong tổng dư nợ, nhưng do có nhiều hợp đồng vay đầu tư chứng khoán kỳ hạn trên 6 tháng được ký từ trước khi Chỉ thị 03 được ban hành (tháng 6.2007). Nói cách khác, nguồn vốn từ thị trường chứng khoán đang phải chảy ngược lại các ngân hàng thương mại. Trong khi không ít nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán đã phụ thuộc lớn vào nguồn vốn vay từ ngân hàng, nay phải bán đi để vừa cắt lỗ, vừa trả nợ vay ngân hàng.

Hai, trong khi chỉ số giá trên thị trường chứng khoán giảm, thì một số kênh đầu tư khác đang có sức hấp dẫn, nhất là kênh đầu tư vào bất động sản; chỉ số giá tiêu dùng cao cũng hút một số tiền không nhỏ vào tiêu dùng.

Ba, do IPO của VCB, nên  sẽ có hai xu hướng tác động. Các nhà đầu tư giảm mạnh việc mua vào để dành vốn tham gia đấu giá cổ phiếu VCB. Các nhà đầu tư nước ngoài cũng giảm mạnh mua vào để kiềm giá trên thị trường chính thức, nhất là cổ phiếu của các ngân hàng đã niêm yết, để kiềm giá đấu cổ phiếu VCB ở mức thấp có lợi cho họ. Có thể dự đoán, 911 điểm của VN-Index và 318 điểm của Hastc-Index chưa phải là “đáy”, mà có thể thấp hơn nữa (theo dự đoán có thể giảm tương ứng còn dưới 900 điểm, thậm chí dưới 878 điểm và dưới 300 điểm, thậm chí dưới 250 điểm). Nhiều khả năng sau Tết Dương lịch mới tăng nhẹ và sau Tết Âm lịch mới tăng cao.

Bốn, trong khi “cầu” giảm, thì “cung” lại tăng mạnh. Các công ty niêm yết trên sàn hay trên thị trường OTC lại dồn dập tung ra thị trường một lượng hàng lớn; rồi việc phát hành cổ phần thưởng, phát hành thêm, chia cổ tức…

Từ diễn biến trên, có thể sẽ có 3 xu hướng. Một mặt đã gần đến lúc những nhà đầu tư dài hạn, đặc biệt là nhà đầu tư “lướt sóng” đẩy mạnh mua vào, vì chỉ số giá chứng khoán đã ở mức thấp. Mặt khác, giá đấu bình quân của cổ phiếu VCB sẽ không cao hơn nhiều so với mức khởi điểm (theo dự đoán chỉ vào khoảng 110-120 nghìn đồng/cổ phiếu), nhưng sau Tết Nguyên đán sẽ tăng mạnh. Mặt khác nữa là giá cổ phiếu của “họ” nhà ngân hàng thương mại sẽ tăng.

Theo Thanh Nien

Quán bên đường

Cụm từ “quán bên đường” đã nói lên một cách chính xác về vị trí, thân phận của những điểm buôn bán theo kiểu này. Quán không tọa lạc tại phố, chợ, không phải tiệm hay cửa hàng và kiến trúc hầu hết là tạm bợ bằng mọi thứ vật liệu nhẹ. Hầu hết quán bên đường thường xa các khu dân cư đông đúc mà chỉ chọn một chỗ nào đó tại một bên của con đường có nhiều người đi lại, có thế đắc địa cho việc buôn bán.

Thời trước, kể từ làng xã, mỗi nơi chỉ có một vài quán. Đây là những quán dựa vào khách trong làng là chính. Có nơi quán được dựng một bên dốc bến đò dọc, đò ngang; có quán lập tại đầu cầu hay đầu một ngã ba. Nếu không phải vừa là nhà ở vừa là quán thì những quán này dựng rất đơn sơ với cột tre, vách tre, lợp tranh và diện tích khá nhỏ. Thông thường, quán có một bàn nhỏ cho khách ăn uống, một sạp tre bày các chai lọ, hũ, thẩu đựng sản phẩm, một vài cây sào gác ngang gần cửa quán để treo các sản phẩm linh tinh khác.

Tại làng xã, những quán bên đường thường được người địa phương gọi tên bằng cách lắp món hàng chính của quán với tên chủ quán. Chẳng hạn: quán hàng xén bà Năm, quán mì Bốn Thơm, quán cháo lòng Bảy Mập… Khách của quán đa số là người cùng xóm cùng làng với nhau. Khách lỡ kẹt tiền mặt được chủ quán sẵn lòng cho ghi sổ để đó trả sau. Khách nào “hết khả năng chi trả” để nợ lâu quá, cuốn sổ này bị gọi vui là “sổ đoạn trường”. Các bà nội trợ rất gắn bó với quán hàng xén. Trong nhà, trong bếp lỡ hết món gì đó liền sai trẻ chạy ra quán. Đường đậu mắm muối dầu chè tiêu ớt… đủ cả, có ngay, và quán chấp nhận bán lẻ đến đơn vị thấp nhất.

Sáng sớm, khách đến quán điểm tâm tô mì, uống bát nước chè nóng trước khi làm việc. Xế chiều, gặp ngày thong thả, cùng vài “chiến hữu” ra quán “làm” tô cháo, dĩa lòng luộc, sương sương vài ly nhỏ rượu gạo, tán gẫu chuyện trên trời dưới đất… cũng thấy cuộc đời đáng yêu, đáng sống biết bao!

Xa hơn, dọc theo các huyện lộ, tỉnh lộ có những quán bên đường được  khách bộ hành thuộc nằm lòng, hễ đi ngang là phải ghé. Quán đường huyện, đường tỉnh khác quán làng xã ở chỗ những quán này có tính cố định về vị trí và chuyên nghiệp về buôn bán hơn. Loại quán này không có sổ nợ, dứt khoát tiền trao cháo múc. Chẳng biết các chủ quán có ngầm phân chia lãnh địa hay không mà trên cùng một con đường, các quán cách nhau đủ cho khách bộ hành đi tới quán là đã mỏi chân, khát nước, đói bụng. Đang với tâm trạng như vậy mà thấy làn khói bếp lan trên mái quán, mùi thơm thức ăn tỏa ra thì khách bộ hành cầm lòng không đậu, phải dừng chân. Cứ vào quán cái đã, không ăn thì uống hoặc cứ ngồi nghỉ khan một lúc cũng chả sao.

Thời “hoàng kim” của quán bên đường là chín năm kháng chiến chống Pháp tại vùng tự do rộng lớn của ta. Hoàn cảnh chiến tranh không có xe cộ nên giao thông trên bộ toàn là… đi bộ. Nhiều địa phương, ngoài quốc lộ, tỉnh lộ, huyện lộ đã có từ xưa, lúc này còn thêm những con đường đi tắt xuyên qua các làng mạc thôn quê. Quán bên đường mọc lên dọc theo những con đường như thế. Quán và khách đều rất cần nhau.

Thời ấy, tại vùng tự do tỉnh Quảng Nam, hầu hết chủ nhân các quán bên đường mới mở là đồng bào tại các đô thị, thị trấn như Đà Nẵng, Hội An, Vĩnh Điện tản cư. Họ đem tới nét văn minh ẩm thực của phố thị làm cho món ăn, thức uống của những quán bên đường thời kháng chiến được phong phú về “mặt hàng”, ngon lành về chất lượng, đẹp về hình thức. Tuy chẳng thể có sơn hào hải vị sang trọng nhưng nhờ các bà các chị khéo tay nên mọi thứ đều làm vừa lòng khách. Ngoài các món ăn quen thuộc như cơm, mì Quảng, bún, bánh bèo, bánh tráng…, các quán mới còn có cháo lòng thả, bánh khoái, bún bò kiểu Huế…, ấn tượng nhất là các loại chè chính bản của Đà Nẵng, Hội An.

Khách bộ hành đi ngả Bà Rén theo quốc lộ 1A lên tỉnh hay vào Tam Kỳ, Bến Ván, đến tận Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên thường dừng lại Trảng Chuổi nghỉ ngơi. Các quán tại đây chỉ bán độc một thức ăn là bún sản xuất tại chỗ dùng với cá biển. Bún và cá đều rất tươi, khách xơi tại quán nào cũng vừa ý cả.

Nếu khách đi từ ngả Trung Phước vào các nơi xa nói trên, họ đi tắt trên những hương lộ nối nhau mà trước kia không mấy ai biết. Khi qua khỏi đèo Le, đến chợ Đông Phú rẽ phải, lội qua sông Rù Rì (Ly Ly) giữa huyện Quế Sơn và Thăng Bình, cứ thế mà đi mãi. Dọc con đường này có những quán nhỏ, món ăn thức uống đơn giản. Khi đến giờ ăn uống thật sự, khách sẽ dừng lại các nơi có những địa danh thân quen như Minh Huy, Đo Đo, Quán Rường, Cẩm Khê… Quán bên đường tại mấy nơi này không thiếu những món ngon, lại hợp túi tiền mọi người trong thời kháng chiến. Những khách bộ hành thường đi lại con đường này hồi ấy, đến bây giờ vẫn còn nhắc một quán bên đường tại Hà Châu huyện Thăng Bình. Quán này bán toàn các loại chè rất ngon, cô chủ quán tên L. xinh đẹp, vui tính. Chẳng biết các “cụ” nhớ chè hay nhớ chủ quán cố nhân…

Theo Báo Quảng Nam

%d bloggers like this: