TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ KHI THỰC HIỆN.

  Đối với doanh nghiệp Việt Nam, khái niệm trách nhiệm xã hội còn khá mơ hồ, một số nơi còn hiểu theo nghĩa truyền thống, nghĩa là tham gia giải quyết các vấn đề xã hội mang tính nhân đạo, từ thiện.  

Hiểu như thế nào về Trách nhiệm xã hội (TNXH) của doanh nghiệp?

Hiện tại có rất nhiều định nghĩa khác nhau về TNXH, dưới đây tôi xin dẫn một số định nghĩa của các chuyên gia và tổ chức quốc tế về TNXH của doanh nghiệp:

         TNXH là cam kết hoạt động kinh tế của doanh nghiệp một cách có đạo đức và đóng góp vào sự phát triển của nền kinh tế đồng thời cải thiện chất lượng cuộc sống của người lao động, gia đình, cộng đồng địa phương và xã hội (Hội đồng Kinh tế vì sự phát triển bền vững).

         TNXH là cách doanh nghiệp tiến hành hoạt động kinh doanh của mình có tác động một cách tích cực lên xã hội (Mallen Baker).

         TNXH của doanh nghiệp là sự cam kết của doanh nghiệp đóng góp cho việc phát triển kinh tế bền vững, thông qua những việc làm nâng cao chất lượng cuộc sống của người lao động và các thành viên trong gia đình họ, cho cộng đồng và toàn xã hội, theo cách có lợi cho doanh nghiệp cũng như phát triển chung của xã hội (Nhóm Phát triển Kinh tế Tư nhân của Ngân hàng Thế giới).   

Theo cách nghĩ của tôi “TNXH là những chính sách của doanh nghiệp nhằm cải thiện phúc lợi cho người lao động, môi trường và toàn xã hội”. 

Đâu là lợi ích của doanh nghiệp khi thực hiện TNXH?

Việc hiểu và tìm cách thực hiện tốt TNXH của doanh nghiệp đang và sẽ là một vấn đề hết sức quan trọng trong giai đoạn hiện nay nhất là với các doanh nghiệp vừa và nhỏ khi môi trường cạnh tranh mang tầm quốc tế. Nhìn vào một số doanh nghiệp thực hiện tốt TNXH chúng ta dễ dàng nhận thấy họ luôn ký được nhiều hợp đồng với số lượng lớn xuất khẩu sang châu Âu và Bắc Mỹ, đời sống vật chất và tinh thần của công nhân ở mức cao …. Theo Nigel Twose, khi doanh nghiệp thực hiện một cách tự nguyện TNXH thì chính doanh nghiệp sẽ có những lợi ích trong kinh doanh.

         Thứ nhất, doanh nghiệp sẽ được duy trì hoặc ký thêm các hợp đồng mới. Định kỳ một năm hoặc sáu tháng, doanh nghiệp sẽ phải được kiểm tra, đánh giá lại hệ thống của nhà máy do bên thứ ba hoặc do chính bên mua thực hiện. Căn cứ vào kết quả đánh giá bên mua sẽ quyết định ký hợp đồng mới hoặc thực hiện tiếp các hợp đồng đã ký hoặc hủy hợp đồng đang thực hiện.

         Thứ hai, tăng năng suất và chất lượng sản phẩm. Khi thực hiện TNXH doanh nghiệp phải duy trì các chế độ phúc lợi xã hội, an toàn vệ sinh lao động ở mức bằng hoặc cao hơn quy định của pháp luật. Như vậy, người lao động sẽ lao động với tinh thần trách nhiệm và ý thức cao nên năng suất lao động tăng là điều dễ hiểu. Bên cạnh đó một số khách hàng sẽ tiến hành đánh giá kỹ thuật song song với đánh giá TNXH nên sản phẩm làm ra luôn đáp ứng yêu cầu của các khách hàng.

         Thứ ba, giảm số công nhân bỏ việc. Khi doanh nghiệp thực hiện tốt TNXH của mình cũng đồng nghĩa với các yêu cầu của người lao động được đáp ứng cho nên không có lý do gì người lao động rời bỏ doanh nghiệp.

         Thứ tư, tăng uy tín xã hội của doanh nghiệp. Doanh nghiệp được ký nhiều hợp đồng, lao động ổn định, chất lượng sản phẩm cao như vậy doanh nghiệp đó đã trở thành điểm sáng trong môi trường kinh doanh và cả trong xã hội.

         Thư năm, là công cụ hỗ trợ để thực hiện tốt hơn pháp luật lao động. Thực tế một số doanh nghiệp thà chịu bỏ ra một khoản tiền để nộp phạt hơn là phải tuân thủ theo quy định của pháp luật. Thế nhưng khi doanh nghiệp dấn thân vào việc thực hiện TNXH thì buộc phải tuân thủ theo quy định của pháp luật trước tiên. Bởi vì, các Bộ Quy tắc ứng xử (Code of Conduct – CoC) của khách hàng đều xây dựng dựa vào các thông lệ quốc tế và pháp luật của quốc gia bên bán hoạt động. 

Doanh nghiệp phải làm gì khi thực hiện TNXH?

Tất cả các Bộ Quy tắc ứng xử TNXH tuy khác nhau nhưng tựu trung lại nằm trong 10 điểm tuân theo các nguyên tắc công ước về Lao động của Tổ chức Lao động Quốc tế (Labor International Organization – ILO), ở đây tôi xin trình bày vắn tắt các nội dung trong tiêu chuẩn SA8000 (Social Accountability) do tổ chức quốc tế về TNXH của Mỹ xây dựng:

  1. Lao động trẻ em;
  2. Lao động cưỡng bức;
  3. An toàn vệ sinh lao động;
  4. Tự do hiệp hội và quyền thỏa ước lao động tập thể;
  5. Phân biệt đối xử;
  6. Xử phạt;
  7. Giờ làm việc;
  8. Trả công;
  9. Hệ thống quản lý;

Đây là những nội dung chính trong TNXH mà doanh nghiệp phải thực hiện khi muốn tham gia kinh doanh với các công ty lớn, tập đoàn đa quốc gia như Wal-mart, Li&Fung, Columbia, Levi Strauss, …  

Những khó khăn khi thực hiện.

Một số khách hàng sẽ tập trung vào đánh giá, kiểm tra một hoặc vài nội dung mà họ đặc biệt quan tâm như Wal-mart chủ yếu tập trung vào thời gian làm việc, phân biệt đối xử; nhưng với Levi Strauss lại quan tâm đến an toàn vệ sinh lao động. Tuy nhiên, một số khác lại đánh giá tất cả các nội dung trong tiêu chuẩn SA8000 hoặc Bộ Quy tắc ứng xử của họ như Li&Fung. Nếu một doanh nghiệp giao dịch với nhiều khách hàng thì doanh nghiệp đó sẽ phải làm tất cả những nội dung trong SA8000, quả là một việc làm không đơn giản.

Như trên đã nói, tiêu chuẩn SA8000 giống như một nội dung chủ đạo của bên mua (Buyer) để tham chiếu khi xây dựng các Bộ Quy tắc ứng xử cho riêng mình. Nói như vậy không có nghĩa là khi làm tốt những nội dung trong SA8000 thì doanh nghiệp sẽ nhận được chứng chỉ. Doanh nghiệp nên căn cứ vào các tiêu chuẩn trong SA8000 để ban hành các chính sách áp dụng trong công ty tạo nền tảng khi tham gia thực hiện TNXH. Một số khách hàng khi mời bên thứ ba đánh giá theo yêu cầu của họ dựa vào các bảng câu hỏi (Questionnaire) như Perry Ellis nhưng cũng có nơi chỉ căn cứ vào những nội dung hết sức khái quát như Taget, khi đánh giá cho khách hàng Taget bên thứ ba căn cứ vào tiêu chuẩn ETI (Ethical Trading Initiative – ETI). Do vậy, để đạt được điểm cao doanh nghiệp phải làm rất nhiều việc. Khi đánh giá nếu doanh nghiệp chỉ có một nội dung hay một điểm nào đó chưa phù hợp thì cũng đủ để người đánh giá cho không đạt (Fail). Điều này đồng nghĩa với việc doanh nghiệp sẽ phải được đánh giá lại lần sau nếu muốn nhận đơn hàng hay ký hợp đồng tiếp. Đối với Wal-mart thời gian đánh giá lại sẽ là 06 tháng kể từ ngày đánh gia nếu doanh nghiệp đạt cấp độ cam (Orange grade), từ 03 – 04 tháng nếu đạt cấp độ vàng (Yellow grade), nếu doanh nghiệp đạt được cấp độ xanh (Green grade) sau 24 tháng mới tiến hành đánh giá lại. Sau mỗi lần đánh giá nếu có những nội dung không đạt, doanh nghiệp phải làm báo cáo cam kết thời gian khắc phục (Correct Action Plan) cho những nội dung đó. Căn cứ vào báo cáo của doanh nghiệp, các khách hàng sẽ thông báo thời gian đánh giá lại (Re-audit) như Wal-mart hoặc không thông báo thời gian cụ thể mà chỉ định đánh giá không báo trước (Unannounced) như Perry Ellis, Columbia.    

Một số doanh nghiệp tuân thủ rất tốt các quy định của pháp luật nhưng khi tham gia thực hiện TNXH cũng phải thực hiện thêm nhiều nội dung khác. Bởi lẽ, một số vấn đề trong nội dung đánh giá có không ít những yêu cầu cao hơn pháp luật Việt Nam quy định với mục đích có lợi cho người lao động, chẵng hạn Perry Ellis yêu cầu doanh nghiệp phải xét nghiệm nước uống 4 lần/năm, hay như Taget yêu cầu doanh nghiệp phải lập chương trình diệt mối, chuột.

Một khó khăn mà doanh nghiệp hay “kêu” nhất khi thực hiện TNXH là kinh phí thực hiện. Thế nhưng theo quy định của pháp luật, hằng năm khi lập kế hoạch sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải lập kế hoạch, biện pháp an toàn vệ sinh lao đông, cải thiện môi trường kèm theo dự toán kinh phí thực hiện. Theo Luật Phòng cháy chữa cháy thì doanh nghiệp phải có nghĩa vụ tổ chức tốt công tác PCCC tại công ty, Luật Môi trường yêu cầu doanh nghiệp quản lý, thu gom các chất thải ….. Vậy nên, đây là kinh phí mà doanh nghiệp phải chi cho hoạt động sản xuất kinh doanh hàng năm của mình.  

Thay lời kết.

Thực hiện TNXH là một công việc không thể tránh khỏi của các doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh kinh tế Việt Nam đang hội nhập sâu với kinh tế thế giới. Đã đến lúc các chủ doanh nghiệp, ban Giám đốc nên nhìn nhận việc thực hiện TNXH có liên quan trục tiếp đến sự sống còn của doanh nghiệp mình. Đồng thời thay đổi cách nghĩ về TNXH một cách thực tế hơn vì đây là quyền lợi của người lao động, người lao động được hưởng và là nghĩa vụ của doanh nghiệp phải thực hiện. Bên cạnh đó, Chính phủ mà đặc biệt là Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội phải có hành động cụ thể để giúp đỡ các doanh nghiệp có mong muốn thực hiện TNXH nhưng gặp khó khăn khi thực hiện.   

 (Bài viết có tham khảo một số nội dung trong  bài “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Việt Nam” của TS. Nguyễn Hữu Dũng – Viện trưởng Viện Khoa học và Lao động xã hội).

Cao Lang.           

%d bloggers like this: