Ca trù

Ca trù còn gọi là hát Ả đào, là một môn nghệ thuật có từ lâu đời ở nước ta. Gọi là Ca Trù (theo các nhà nghiên cứu âm nhạc dân gian) vì khi chơi, người ta dùng thẻ (trù) để thưởng cho các đào nương, kép đàn khi hát và đàn những câu, đoạn mà người thưởng thức cho la xuất sắc… Ca trù là một bộ môn nghệ thuật tổng hợp, bao gồm nhạc, thơ, múa và trò diễn.

Khoảng từ cuối thế kỷ 18, lối hát ca trù rất thịnh hành, xuất hiện nhiều nhóm hát, nhiều câu lạc bộ. Ca trù bao hàm rất nhiều hình thức nghệ thuật trong đó có nghệ thuật ca hát, nghệ thuật múa và nghệ thuật trình diễn với khoảng 50 làn điệu. Từ hát ở cửa đình ra sinh hoạt đời thường, hát khao vọng, hát mừng lên lão, rồi nó ra ca quán hát cho các nhà văn, nhà thơ nghe. Những nhà văn, thơ lớn của Việt Nam như Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Tuân, Thạch Lam đều am hiểu và rất say mê với nghệ thuật ca trù. Trong quá trình dịch chuyển đó nó vẫn bảo tồn được ba hình thức nghệ thuật ca, múa và trình diễn, tự dịch chuyển không gian và bảo tồn luôn giá trị. Rồi nó đi vào đời sống của người Hà Nội từ 50 năm nay.
Ca trù là một loại hình có nhiều luật lệ nghiêm ngặt, chưa kể những tiêu chuẩn về thanh, sắc, đạo đức, về phép tắc và phương tiện. Chẳng hạn như: Hát có 5 giọng; Đàn có 5 cung; Phách có 5 khổ; Điểm trù có 5 phép. Đào nương nào muốn có giọng hát hay, tiếng phách róc đều và ròn phải luyện tập theo 8 tiêu chuẩn: Quán, Xuyến, Dằn, Thét, Khuôn, Rẫy, Diệu, Vợi. Đồng thời phải biết tránh 6 điều: Lỏi, Ngang, Cản, Chặn, Hụt, Sa. Khi hòa giọng hát với tiếng phách, tiếng đàn thì phải tuyệt đối tuân theo các khổ phách, khổ đàn. Trống chầu tuy giao cho quan viên nhưng cũng phải là người am hiểu âm luật Ca trù mới có thể cầm chầu được. Người đánh trống ít nhất phải biết 5 phép trông dục, 6 phép trống chầu và nhiều cách biến hóa. Nghệ thuật Ca trù bộc lộ tình đời một cách vừa quyến rũ, vừa thanh tao và độc đáo. Nghệ thuật ca trù là sự truyền đời từ đời này sang đời khác theo tổ chức, theo dòng họ. Ca trù đã được các triều đại phong kiến cho nó một tổ chức chặt chẽ là các ty giáo phường. Mỗi ty giáo phường  được chia nhỏ ra thành những giáo phường, mỗi phường là một dòng họ. Vì thế di tích dòng họ cũng gắn với di tích về ca trù. Chỉ riêng việc theo dòng họ, nối đời này qua đời khác đã khiến ca trù gắn với tính thiêng, với tâm linh của dòng họ. Điểm độc đáo khác biệt giữa nghệ thuật ca trù với các loại hình nghệ thuật dân tộc chính ở chỗ ca nương (đào nương) vừa ca hát, vừa đánh phách. Đây là một nét hết sức độc đáo vì giữa đánh phách và hát có sự đối kỵ nhau về tiết tấu. Bên cạnh đó là cây đàn đáy, nhạc cụ độc đáo của Việt Nam chuyên dùng đệm cho Ca trù có âm thanh ấm, trầm, đầy. Sự đối tỷ về âm sắc giữa đàn và giọng hát (tiếng hát thì cao vút, thanh, mảnh còn tiếng đàn thì trầm) đã tạo hiệu quả âm thanh rất lớn. Bên cạnh đó là sự xuất hiện của trống chầu. Đây là nhạc cụ không phải của nhạc công mà là do người thưởng thức cầm đánh với một vai trò hết sức quan trọng là thưởng phạt, khen chê và hướng dẫn cho người nghe. Nó đòi hỏi người chơi phải am hiểu văn thơ và am hiểu âm nhạc, tức là đòi hỏi một khán giả cao cấp. 

Advertisements
%d bloggers like this: