Lịch sử phát triển Nhạc cổ điển – phần 5

THỜI KỲ LÃNG MẠN (1800-1910)

Đầu thế kỉ 19, các tác phẩm âm nhạc của trường phái cổ điển Vienna với những tên tuổi như Haydn, Mozart, Beethoven chiếm lĩnh toàn bộ châu Âu. Các nhà soạn nhạc đã thường viết các bản biến tấu theo phong cách này, một phong cách có thể mang lại nhiều ấn tượng. Phong cách này có khuynh hướng trở thành công thức ở trong bàn tay của những nhà soạn nhạc kém tài năng. Một phần vì lí do này mà các cuộc thí nghiệm của những nhà soạn nhạc thời kì 1810 – 1820 dần dần bắt đầu tìm đến những phong cách mới.
Đọc tiếp

Advertisements

Lịch sử phát triển Nhạc cổ điển – phần 4

THỜI KỲ CỔ ĐIỂN (1730-1820)

Từ khoảng năm 1720 những tiến triển mới một lần nữa lại bắt đầu làm suy yếu phong cách âm nhạc đang thịnh hành. Các nhạc sĩ trẻ thấy rằng sự đối âm thời kỳ Baroque quá cứng nhắc và lí trí, họ ưa thích một sự biểu lộ âm nhạc tự nhiên, ít gò bó hơn. Thêm vào đó, tư tưởng cuối thời Baroque về việc hình thành một đặc tính cảm xúc độc đáo và duy trì nó trong suốt một tác phẩm dường như đang thui chột đi đối với các nhạc sĩ trẻ này.
Đọc tiếp

Lịch sử phát triển Nhạc cổ điển – phần 3

 THỜI KỲ BAROQUE (1600-1700) 

Vào cuối thế kỷ 16, khi tính phức điệu thời Phục hưng vẫn còn đang thịnh hành, những tiến triển mới ở Ý đã bắt đầu làm thay đổi âm giọng và cấu trúc của âm nhạc. Rất nhiều nhạc sĩ Ý không thích phong cách đối âm của những Người Hà Lan.
Đọc tiếp

Lịch sử phát triển Nhạc cổ điển – phần 2

Thời kì Phục hưng (1400-1600)
 Chống lại những phức tạp của ars nova, hầu hết các nhà soạn nhạc đầu thế kỉ 15 ưa thích phong cách âm nhạc đơn giản hơn với những giai điệu chảy trôi êm ả, những hòa âm nghe êm tai hơn và ít nhấn mạnh vào đối âm hơn. Nhà soạn nhạc Anh John Dunstable là người đầu tiên đẩy mạnh việc hướng tới một phong cách đơn giản hơn.
Đọc tiếp

Lịch sử phát triển Nhạc cổ điển – phần 1

THỜI TRUNG CỔ
Âm nhạc đầu thời kì Trung cổ
 Ở thời Trung cổ, hầu hết các nhạc sĩ chuyên nghiệp đều được nhà thờ Cơ đốc giáo tuyển dụng. Vì nhà thờ đối lập với ngoại giáo liên quan đến Hi Lạp và La Mã cổ đại nên nó không khuyến khích việc biểu diễn âm nhạc Hi Lạp và La Mã. Hậu quả là loại âm nhạc này bị tàn lụi.
 Người ta biết rất ít về thể loại thánh ca không nhạc đệm được sử dụng trong những nghi lễ nhà thờ thời kỳ đầu.
Đọc tiếp

Những giọng nữ cao của mọi thời đại

“Danh sách 20 soprano hàng đầu của mọi thời đại do chúng tôi đưa ra gần đây trên BBC Music đã gây ra một cuộc tranh cãi. Tại sao lại tranh cãi? Dựa trên các phân tích của những nhà phê bình opera hàng đầu Anh quốc, chúng tôi đã nhận ra rằng, không nữ danh ca opera nào trên các sân khấu hiện nay đủ xứng đáng để lọt vào top ten. Dĩ nhiên là có vài lý do chính đáng để các vị trí cao nhất thuộc về những ngôi sao lớn trong quá khứ. Các soprano của những thập kỷ 1950 và 1960 được tôn sùng chẳng kém gì các ngôi sao điện ảnh.
Đọc tiếp

Nobel 2007

Cứ đến trung tuần tháng 10 hằng năm, toàn thế giới lại hướng về thủ đô Stockhom, Thụy Điển, theo dõi công bố và trao giải Nobel cho các nhà khoa học, hoạt động xã hội trong những lĩnh vực: vật lý, hóa học, sinh học, y học, kinh tế, văn học và hòa bình. Trong mùa giải Nobel 2007, tính đến ngày 14/10/2007, Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển đã công bố:

-Giải Nobel về Sinh lý học hay Y học được trao cho ba nhà khoa học: Mario R. Capecchi, 70 tuổi, Viện nghiên cứu y khoa Howard Hughes, Đại học Utah, Mỹ; Martin J. Evans, 66 tuổi Đại học Cardiff, Anh; và Oliver Smithies, 82 tuổi Đại học North Carolina, Mỹ. Ba nhà khoa học này đã có hàng loạt nghiên cứu mang tính đột phá về tế bào gốc phôi thai và ADN.
-Giải Nobel về Vật lý được trao cho hai nhà khoa học: Albert Fert, sinh 1938, Đại học Paris-Nam, Orsay, Pháp; và Peter Grunberg, sinh 1939, Viện nghiên cứu chất rắn (Institut fur Festkorperschung), Julich, Đức. Cả hai nhà khoa học này đã phát hiện ra hiệu ứng điện trở khổng lồ.
-Giải Nobel về Hóa học được trao cho nhà khoa học Gerhard Ertl, 71 tuổi, Viện Nghiên cứu Fritz-Haber, thuộc Đại học Max-Planck, Đức nhờ công trình nghiên cứu của ông về phản ứng hóa học trên bề mặt các chất rắn.
-Giải Nobel về Văn học được trao cho nữ tiểu thuyết gia người Anh Doris Lessing, 88 tuổi. Trong suốt 5 thập kỷ qua, bà đã lao động không mệt mỏi cổ vũ cho chủ nghĩa nam nữ bình quyền. 
 
Tính đến trước ngày 08/10 đã có 791 giải Nobel được trao: 772 cá nhân và 19 tổ chức. Trong số những cá nhân nhận giải có 33 phụ nữ, 739 nam giới.

-Người nhận giải trẻ nhất là Lawrence Bragg. Ông được trao giải Nobel về Vật lý vào năm 1915 khi mới 25 tuổi cùng với cha của mình.
-Người nhận giải nhiều tuổi nhất là Raymond Davis Jr. Ông được trao giải Nobel về Vật lý vào năm 2002 khi đã gần 88 tuổi.
-Hai người đã từ chối không nhận giải Nobel là Jean-Paul Sartre (Văn học) và Lê Đức Thọ (Hòa bình).
-Gia đình Marie Curie là gia đình duy nhất có 3 người đoạt giải Nobel: Marie Curie đã hai lần được trao giải Nobel, chồng bà Pierre Curie (giải Nobel về Vật lý năm 1903) và con gái Irène Joliot-Curie (giải Nobel về Hóa học năm 1935).
-Những cá nhân và tổ chức hơn một lần nhận được giải Nobel: M. Curie (Vật lý năm 1903 và Hóa học năm 1911); J. Bardeen (Vật lý năm 1956 và 1972); L. Pauling (Vật lý năm 1954 và Hòa bình năm 1962); F. Sanger (Hóa học năm 1958 và 1980); Ủy ban chữ thập đỏ Quốc tế ICRC (Hòa bình 1917, 1944, 1963); Cao ủy tỵ nạn Liêp hiệp quốc. UNHCR (Hòa bình 1954, 1981). Trong đó L. Pauling là cá nhân duy nhất hai lần nhận giải mà không chia sẻ với cá nhân nào.

(Caolang ST).

%d bloggers like this: