Einstein: cuộc đời và sự nghiệp – 2

2- Lúc trưởng thành

Tại châu Âu vào thời kỳ đó, ngoài các trường kỹ thuật của nước Đức ra, trường Bách Khoa tại Zurich là nơi danh tiếng. Trường này thuộc Liên Bang Thụy Sĩ là một nước có nền chính trị trung lập ở châu Âu. Các sinh viên ngoại quốc nào không thể theo đuổi sự học tại nước mình vì lý do chính trị, có thể tiếp tục sự học tại nơi đây. Vì vậy trong trường Bách Khoa, số sinh viên nước ngoài cũng khá đông. Muốn vào trường, sinh viên phải qua một kỳ thi tuyển. Einstein cũng nộp đơn dự thi nhưng chàng bị rớt: chàng thiếu điểm về môn sinh ngữ và vạn vật, tuy rằng bài toán của chàng thừa điểm. Thực vậy, sự hiểu biết của Einstein về Toán đã vượt hơn các bạn.

Sau khi thi rớt, Einstein bắt đầu lo ngại. Cái viễn ảnh đen tối hiện lên trong trí óc chàng. Cuộc mưu sinh của cha chàng tại nước Ý cũng gặp nhiều trắc trở. Einstein tự trách đã nông nổi bỏ sang nước Ý và hối tiếc sự học tại Gymnasium khi trước, tuy bó buộc thực nhưng đủ bảo đảm cho tương lai. Nhưng may mắn cho Albert, bài làm xuất sắc về Toán của chàng đã khiến cho viên giám đốc trường Bách Khoa chú ý. Ông ta khuyên chàng nên theo học tại một trường khá nổi danh thuộc tỉnh Aarau. Einstein tự hỏi liệu nơi mình sẽ tới học có giống như các trường tại nước Đức không? Cái hình ảnh cũ của ký túc xá hồi còn nhỏ khiến cho chàng sợ hãi lối sống cũ và phân vân trước khi bước vào một nơi học mới. Bất đắc dĩ, Einstein đành phải nhận lời.

Khi tới Aarau, Einstein đã ngạc nhiên hết sức: tất cả các điều ước đoán của chàng khi trước đều sai hết. Nơi đây không có điều gì giống Gymnasium của nước Đức. Tinh thần của thầy trò nơi đây khác hẳn: kỷ luật sắt không có, giáo sư cố công hướng dẫn học sinh biết cách suy nghĩ và tự làm việc. Các bậc thầy đều là những người cởi mở, luôn luôn tiếp xúc với học sinh, bàn bạc cùng cho họ những lới khuyên bảo chân thành. Tinh thần học hành tại nơi đây đã theo đường lối dân chủ thì phương pháp học tập cũng được canh tân theo đà tiến bộ. Học sinh được làm lấy các thí nghiệm về Vật Lý và Hóa Học, được xem tận mắt các máy móc, các dụng cụ khoa học. Còn các môn học khác cũng được giảng dạy bằng cách căn cứ vào các dẫn chứng cụ thể, rõ ràng.

Sau một năm theo học tại Aarau, Einstein tốt nghiệp trung học và được nhận vào trường Bách Khoa Zurich mà không phải qua một kỳ thi nào khác. Trường kỹ thuật này đã cho chàng các sự hiểu biết căn bản về Vật Lý và Toán Học. Ngoài ra, vào các thời giờ nhàn rỗi, Einstein thường nghiền ngẫm các tác phẩm khoa học của Helmholtz, Kirchhoff, Boltzmann, Maxwell và Hertz.

Càng chú tâm đọc sách Vật Lý , Einstein lại càng cảm thấy cần phải có trình độ hiểu biết rất cao về Toán Học. Tuy nhiên, vài giờ Toán tại trường đã không khiến cho chàng chú ý, phải chăng do giáo sư toán thiếu khoa sư phạm? Thực vậy, ông Hermann Minkowski, Giáo Sư Toán, đã không hấp dẫn được sinh viên vào các con số tuy rằng ông là một nhà toán học trẻ tuổi nhưng xuất sắc. Dù sao, những ý tưởng về các định luật Toán Học do ông Minskowski đề cập cũng đã thấm nhập ít nhiều vào trí óc của Einstein và giúp cho chàng phát triển về môn Vật Lý sau này.

Tại nước Ý, cơ xưởng của ông Hermann chỉ mang lại một nguồn lợi nhỏ nên Albert Einstein sống nhờ vào tiền trợ cấp của một người trong họ. Hàng tháng chàng nhận được 100 quan Thụy Sĩ. Tuy món tiền này quá nhỏ nhưng Einstein phải để dành 20 quan, hy vọng sau này sau khi tốt nghiệp, chàng có đủ tiền xin được quốc tịch Thụy Sĩ. Vì cách tiết kiệm này, chàng phải chịu cảnh thiếu thốn và không hề biết tới sự xa hoa.

Từ thuở nhỏ, Einstein đã ít chơi đùa cùng các đứa trẻ trong xóm thì ngày nay khi sống tại trường đại học, chàng cũng vẫn là một sinh viên dè dặt. Tuy vậy, không phải Einstein không có bạn thân. Chàng hay tiếp xúc với Friedrich Adler. Anh chàng này là người Áo, con một nhà lãnh tụ phe Dân Chủ Xã Hội thuộc thành phố Vienna và ông này không muốn con trai của mình dính dáng tới chính trị nên đã gửi Adler tới Zurich theo học. Einstein còn có một cô bạn gái rất thân: cô Mileva Maritsch, người Hung. Cô này thường trao đổi bài vở với Einstein.

Vào năm 1901, Albert Einstein tốt nghiệp trường Bách Khoa và cũng trở nên công dân Thụy Sĩ. Đối với những sinh viên mới ra trường và có năng khiếu về Khoa Học thì ước mơ của họ là làm thế nào có thể xin được một chân giúp việc cho một giáo sư đại học nhiều kinh nghiệm rồi nhờ vậy có thể học hỏi thêm những phương pháp khảo cứu khoa học của ông ta. Einstein cũng mong ước như thế nhưng các đơn xin đều bị khước từ. Không xin được việc tại trường đại học, Einstein quay sang việc nạp đơn vào một trường trung học, nhưng mặc dù có nhiều thư giới thiệu nồng nàn, mặc dù xuất thân từ trường Bách Khoa và có quốc tịch Thụy Sĩ, Einstein vẫn không xin được việc làm. Phải chăng người ta đã không coi chàng như một người dân chính gốc mà chỉ là một công dân trên giấy tờ?

Chờ mãi thì phải có việc: một người bạn của Einstein giới thiệu chàng với ông Haller, giám đốc Phòng Văn Bằng ở Berne. Văn Phòng này đang thiếu một người thạo về các phát minh khoa học trong khi Einstein lại chưa có một kinh nghiệm gì về kỹ thuật cả. Nhưng sau một thời gian thử việc, Einstein được chấp nhận. Bổn phận của chàng là phải xem xét các bằng sáng chế: công việc này không phải là dễ vì các nhà phát minh thường là các tài tử, không biết diễn tả những điều khám phá theo thứ tự, rõ ràng.

Nhờ làm việc tại Phòng Văn Bằng, Einstein được lãnh lương 3 ngàn quan. Cuộc sống tương đối dễ chịu khiến chàng nghĩ đến việc hôn nhân. Einstein cưới cô bạn gái cũ là Mileva Maritsch tuy nàng hơn chàng vài tuổi. Mileva là người có tư tưởng hơi tiến bộ lại không biết cách sống hòa mình với các người chung quanh, vì vậy gia đình Einstein không được hạnh phúc lắm. Ít lâu sau, hai người con trai ra đời, đứa con cả cũng mang tên Albert như cha. Einstein đã tìm được hạnh phúc bên hai đứa con kháu khỉnh.

Caolang ST.

Advertisements

Einstein cuộc đời và sự nghiệp – 1

Sau khi Thế Chiến Thứ Hai chấm dứt, có một nhà đại bác học được toàn thế giới ca ngợi về một phương trình lừng danh nhất của Khoa Học, đó là phương trình cho biết năng lượng của vật chất: E=mc2. Trong hàng chục năm trời, E = mc2 vẫn chỉ là đề tài của các cuộc tranh luận về mặt lý thuyết, nhưng sự san bằng thành phố Hiroshima vào năm 1945 do quả bon nguyên tử đã chứng minh sự thật của phương trình đó.

Trước lời ca tụng, trước vinh quang rực rỡ, Albert Einstein, tác giả của phương trình lừng danh kể trên lại, giữ một bộ mặt thẹn thùng, xa lạ. Sự quảng cáo thanh danh đã quấy nhiễu ông suốt đời nhưng tất cả đều bị ông coi thường, lãnh đạm. Einstein chỉ khao khát độc nhất sự trầm lặng để có thể suy nghĩ và làm việc.

1- Thời niên thiếu.

Albert Einstein sinh ngày 14-3-1879 tại Ulm, miền Wurtemberg, nước Đức. Cái tỉnh nhỏ bé này không mang lại cho Albert một kỷ niệm nào cả vì năm sau, gia đình Einstein đã di chuyển tới Munich. Sống tại nơi đây được một năm, một người em gái của Einstein ra chào đời và từ đó không có thêm tiếng trẻ thơ nữa. Chủ gia đình, ông Hermann Einstein là người lạc quan, tính tình vui vẻ. Còn bà mẹ, bà Pauline Koch, đã tỏ ra có óc thẩm mỹ ngoài bản tính cần cù, tế nhị. Bà hay khôi hài và yêu thích âm nhạc.

Vốn dòng dõi Do Thái nhưng gia đình Einstein lại sinh sống như người Đức vì tổ tiên của họ đã sinh cơ lập nghiệp tại nước Đức lâu đời. Các phong tục Do Thái cũ đều còn lại rất ít, trong khi tôn giáo bao giờ cũng là thứ mà họ giữ gìn. Vào các ngày lễ riêng của đạo Do Thái, nhóm dân này thường cử hành các buổi lễ theo nghi thức cổ truyền. Ngoài ra, cứ vào ngày thứ năm, gia đình Einstein thường mời một sinh viên Do Thái nghèo túng đến dùng cơm rồi cùng nhau nhắc nhở lại các điều răn trong Thánh Kinh.

Munich, thành phố mà Albert Einstein đã sống trong thời thơ ấu, là trung tâm chính trị và văn hóa của nước Đức tại miền nam. Ông Hermann đã mở tại thành phố này một cái xưởng nhỏ về điện cơ. Ông có một người em là kỹ sư điện nhiều kinh nghiệm, hai anh em cùng góp sức vào việc khai thác nguồn lợi: anh trông nom về mặt giao dịch buôn bán còn em cai quản phần kỹ thuật chuyên môn.

Từ ngày lọt lòng mẹ, cậu Albert chẳng có gì khác hơn những đứa trẻ thông thường. Cậu chậm biết nói đến nỗi lên 3 tuổi mà còn bập bẹ tiếng một khiến cho cha mẹ tưởng cậu bị câm. Hai ba năm sau, Albert vẫn còn là đứa trẻ ít nói, rút rát, thường lánh xa mọi đứa trẻ cùng phố. Cậu ít bạn và không ưa thích đồ chơi. Đoàn lính bằng chì của cha tặng cho cũng không làm cậu vui thích, điều này quả là khác thường bởi vì xứ sở này phải gọi là quê hương của những đoàn quân thiện chiến, của các tướng lãnh lừng danh như Bismarck, như Von Moltke. Cách giải trí mà cậu ưa thích là hát khe khẽ các bài thánh ca khi dạo mát một mình ngoài cánh đồng. Einstein đã sống trong tình thương của cha mẹ và bên cạnh người chú tài ba. Chính nhờ ông này mà Einstein có được các khái niệm đầu tiên về Toán Học.

Thời bấy giờ tại nước Đức, các trường tiểu học không phải do chính phủ mở ra mà được các giáo hội phụ trách. Tuy theo đạo Do Thái nhưng ông Hermann lại cho con theo học một trường tiểu học Thiên Chúa giáo, có lẽ ông muốn con mình về sau này sinh sống như một đứa trẻ Đức. Einstein đã theo dần các lớp tiểu học mà không hề cảm thấy mình là một đứa trẻ khác đạo. Tại trường học, Albert Einstein không tỏ ra xuất sắc. Bản tính rút rát và ưa tư lự của cậu khiến cho các bạn thường chế riễu cậu là người mơ mộng.

Năm lên 10 tuổi, Albert Einstein rời trường tiểu học vào Gymnasium tức là trường trung học Đức. Việc học của các thiếu niên Đức từ 10 tới 18 tuổi đều do Gymnasium quyết định và cho phép lên Đại Học hay bước sang các ngành kỹ thuật. Tại bậc trung học, học sinh phải học rất nhiều về tiếng La-Tinh và Hy Lạp. Kỷ luật nhà trường rất nghiêm khắc, các giáo sư thường độc đoán và xa cách học sinh. Sống tại một nơi có nhiều điều bó buộc như vậy, Albert Einstein cảm thấy khó chịu. Có lần cậu nói: “tại bậc tiểu học, các thầy giáo đối với tôi như các ông Thượng Sĩ, còn tại bậc trung học, giáo sư là các ông Thiếu Úy”. Sự so sánh này làm nhiều người liên tưởng tới đội quân của Vua Wilhelm II, với các ông Thượng Sĩ là những người thô tục và tàn bạo còn sĩ quan thường ưa thích uy quyền, lại tỏ ra bí mật và quan trọng.

Từ thuở nhỏ, Albert Einstein đã yêu thích học hỏi về Vật Lý. Cậu còn nhớ khi lên 5 tuổi, cha cậu cho cậu một chiếc địa bàn. Chiếc kim lúc nào cũng chỉ về một hướng làm cho cậu bé này thắc mắc, suy nghĩ. Lớn lên, Einstein ưa thích đọc các loại sách Khoa Học. Chàng sinh viên Do Thái tới ăn cơm vào ngày thứ năm đã khuyên Einstein đọc bộ sách “Khoa Học Phổ Thông” của Aaron Bernstein. Nhờ cuốn này mà Einstein hiểu biết thêm về Sinh Vật, Thực Vật, Vũ Trụ, Thời Tiết, Động Đất, Núi Lửa cùng nhiều hiện tượng thiên nhiên khác.

Về Toán Học, không phải nhà trường cho cậu các khái niệm đầu tiên mà là gia đình và ông chú ruột đã chỉ dạy cho cậu rõ ràng hơn các giáo sư tại Gymnasium. Nhà trường đã dùng phương pháp cổ điển, cứng rắn và khó hiểu bao nhiêu thì tại nhà, chú của cậu lại làm cho cách giải các bài toán trở nên vui thích, dễ dàng, nhờ cách dùng các thí dụ đơn giản và các ý tưởng mới lạ.

Năm 12 tuổi, Albert Einstein được tặng một cuốn sách về Hình Học. Cậu nghiền ngẫm cuốn sách đó và lấy làm thích thú về sự rõ ràng cùng các thí dụ cụ thể trong sách. Nhờ cuốn này, cậu học được cách lý luận phân minh và cách trình bày thứ tự của một bài tính. Do đó, cậu hơn hẳn các bạn về môn Toán. Vì được cha mẹ cho học đàn vĩ cầm từ khi lên 6 tuổi nên càng về sau, Einstein càng yêu thích âm nhạc và cảm thông được vẻ trong sáng và bay bướm trong các nhạc phẩm của Mozart. Năm 14 tuổi, Albert Einstein đã được dự vào các buổi trình diễn âm nhạc và nhờ vậy, cậu thấy mình còn kém về kỹ thuật vĩ cầm.

Đời sống tại nước Đức càng ngày càng khó khăn. Vào năm 1894, ông Hermann đành phải bán cửa hàng của mình rồi sang Milan, nước Ý, mở một cơ xưởng tương tự. Ông để con trai ở lại nước Đức theo nốt bậc trung học, vì chính nơi đây sẽ cho phép con ông bước lên bậc Đại Học. Vốn bản tính ưa thích Tự Do, Albert Einstein cảm thấy ngạt thở khi phải sống tại Gymnasium. Rồi quang cảnh ngoài đường phố nữa: vào mỗi buổi chiều, khi đoàn lính đi qua, tiếng trống quân hành đã kéo theo hàng trăm đứa trẻ. Các bà mẹ Đức thường bế con đứng xem đoàn thanh niên trong bộ quân phục diễn qua, và ước mơ của các thiếu nhi Đức là một ngày kia, chúng sẽ được đi đứng hiên ngang như các bậc đàn anh của chúng. Trái với sở thích chung kể trên, Albert Einstein lại rất ghét Quân Đội, rất ghét Chiến Tranh. Về sau này, có lần Einstein đã nói: “Tôi hết sức kinh rẻ kẻ nào có thể vui sướng mà đi theo nhịp quân hành, nếu họ có một khối óc thì quả là nhầm lẫn rồi, một cái tủy xương sống là đủ cho họ”.

Nền kỹ nghệ phát triển rất nhanh tại nước Đức đã khiến cho con người hầu như quên lãng thiên nhiên. Trái lại tại nước Ý, cảnh thiên nhiên rực rỡ và bầu trời trong sáng của miền Địa Trung Hải đã khiến cho Einstein tin tưởng đó là thiên đường nơi hạ giới. Vì sống trong cảnh cô đơn quá đau khổ nên nhiều lần Albert Einstein đã định bỏ trường học mà sang nước Ý sống với cha mẹ. Cuối cùng cậu tìm đến một y sĩ và xin giấy chứng nhận mình bị suy yếu thần kinh, cần phải tĩnh dưỡng tại nước Ý trong 6 tháng. Ông Hermann rất bực mình khi biết con bỏ dở việc học mà theo sang Milan. Albert lại cho cha biết ý định từ bỏ quốc tịch Đức bởi vì cậu đã chán ghét sự bó buộc của xứ sở đó. Nhưng cuộc sống tại Milan không phải dễ dàng. Ông Hermann cũng không quyết định cư ngụ tại nơi đây và việc xin cho Albert nhập quốc tịch Ý chưa chắc đã thành công trong một thời gian ngắn, như vậy Albert sẽ là một người không có tổ quốc. Ông Hermann khuyên con trai nên chờ đợi.

Thời gian sống tại nước Ý đối với Einstein thật là sung sướng. Cậu lang thang khắp các đường phố, đâu đâu cũng vang lên tiếng hát của người dân yêu thích âm nhạc. Cậu đi thăm rất nhiều viện bảo tàng, và các lâu đài tráng lệ với các tác phẩm nghệ thuật đã làm cho mọi người phải say sưa, lưu luyến. Phong cảnh của nước Ý thực là hữu tình nên đã khiến cho con người yêu mến thiên nhiên. Người dân tại nơi đây không làm việc như một cái máy, không sợ quyền hành, không bị ràng buộc vào các điều lệ nhân tạo gò bó mà trái lại, tất cả mọi người đều cởi mở, vui vẻ và hồn nhiên.

Tại Milan, nghề điện đã không giúp được cho gia đình Einstein sung túc. Ông Hermann phải bảo con trai đi kiếm một việc làm nuôi thân. Albert tính rằng để có thể tiếp tục sự học, điều hay nhất là cậu xin vào một trường nào cấp học bổng. Vì không tốt nghiệp từ Gymnasium, Albert không thể nào xin lên đại học được, vả lại cậu khá về toán học nên một trường kỹ thuật sẽ hợp với cậu hơn.

Caolang ST

KHỔNG GIÁO

KHỔNG GIÁO: LỐI SỐNG HÒA HỢP VÀ KHUÔN PHÉPHuyền thoại kể rằng khi Lão Tử đã rất già thì có một thanh niên học rộng ở tỉnh lân cận đến thăm. Người thanh niên trẻ này, đã bỏ hầu hết ngày tháng của mình vào việc nghiên cứu, đến để hỏi một số câu hỏi. Giống như Lão Tử, người thanh niên này quan tâm đến phẩm chất đời sống tại Trung Hoa. Anh ta cũng tin rằng lùi lại “những ngày xưa cũ tốt đẹp” của thời đại vàng son mà người ta đã có đời sống tốt đẹp hơn và xứ sở này nói chung sung túc hơn.

Người thanh niên trẻ tuổi này là Khổng Tử, và Ngài đã tiến tới niềm tin này qua con đường nghiên cứu và tìm tòi những tài liệu cổ của Trung Hoa. Khi Ngài thu thập và giải thích những tác phẩm kinh điển, Ngài đã tìm ra điều được coi là manh mối của đời sống hạnh phúc hơn ở những ngày ban sơ. Để thực sự hiểu triết lý Khổng Tử, chúng ta vẫn phải quay về với những bình luận của Ngài về những tác phẩm kinh điển này. Những sách văn tuyển, các câu chuyện về Khổng Tử và những lời bình luận của Ngài về tình trạng đời sống cũng nói về những đề xuất vì lợi ích cho người đồng hương của Ngài.

Cả Lão Tử lẫn Khổng Tử đều quan tâm đến những yếu điểm xã hội và luân lý của thế hệ các Ngài. Lão Tử vấp phải sự thách thức của lối sống có quan điểm căn bản là những thể chế và phong tục vào thời Ngài không thiên nhiên, do đó cần phải tránh… Khổng Tử, một người bảo thủ thực sự, dạy rằng điều tốt nhất trong quá khứ phải được gìn giữ và cải tiến cho thích đáng. Trong quá khứ có chìa khóa cho hiện tại và tương lai. Ngài không tìm cách thiết lập một tôn giáo mới hay một hệ thống đạo đức mới.

Khổng Tử cũng đối đầu với câu hỏi căn bản mà Lão Tử quan tâm. “Đời sống là gì? Làm sao tôi có thể sống hòa hợp tốt nhất trong thế giới này? Làm sao tôi có thể sống một cuộc đời hạnh phúc? Tôi là gì?” Một phần câu trả lời Khổng Tử quay về với thiên nhiên và Đạo cũng như Lão Tử đã làm. Ngài quan sát thấy tất cả các bộ phận của thiên nhiên hoạt động hòa hợp với nhau. Ngài khẳng định con người có thể học từ thiên nhiên. Bằng cách theo con đường của thiên nhiên và sự hòa hợp, con người có thể làm điều tốt nhất mà con người có thể làm được trong thế giới này.

Hòa hợp là lý tưởng của Khổng Tử, cũng là lý tưởng của Lão Tử. Khác biệt giữa hai người ở chỗ nào? Trước hết là cá tính của hai người khác hẳn nhau. Trong những vấn đề mà hai vị phải đối đầu, tính khác nhau về quan điểm quyết định sự khác biệt trong cách giải quyết mà họ đưa ra. Trong khi Lão Tử có khuynh hướng là “cá nhân chủ nghĩa”, thì Khổng Tử tin rằng toàn bộ trách nhiệm của con người là xã hội. Con người không phải là người sống tách khỏi đồng loại. Cho nên hòa hợp đối với con người có nghĩa hòa hợp với những người khác. Lão Tử tin tưởng rằng trách nhiệm của con người là phải hiểu mình và phải trực tiếp hướng mình vào hòa hợp với Đạo. Nhưng Đức Khổng Tử tin rằng trách nhiệm của con người là cùng cộng tác với nhau và thi hành nhiệm vụ mà xã hội kỳ vọng ở nơi họ. Dĩ nhiên sự cộng tác như thế bám chắc vào Đạo, nhưng trình độ kinh nghiệm của con người lại là phương tiện qua đó con người bầy tỏ họ thống thuộc về vũ trụ. Khi người ta phát triển được khả năng hòa hợp với những người đồng loại, thì họ có thể hiểu được sự hòa hợp của vạn vật.

CẦN PHẢI CÓ LUẬT LỆ CHO CUỘC SỐNG

Khổng Tử thấy không phải tất cả mọi người đềụ cư xử một cách cộng tác và giúp đỡ lẫn nhau. Điều này, đối với tâm trí thực tiễn của Khổng Tử, có nghĩa đơn giản là họ cần một số tiêu chuẩn nhất định. Trong những tác phẩm của Ngài, Khổng Tử nhấn mạnh đến những tiêu chuẩn như vậy, Ngài nhắc lại, và giải thích những luật lệ truyền thống cổ của xã hội Trung Hoa. Ngài thấy không cần thêm những luật lệ mới. Nhiệm vụ của Ngài như Ngài đã dự tính là soạn thảo và truyền đạt cho hậu thế những tập tục và cách cư xử trước đây của xã hội Trung Hoa. Ngài không viết điều gì mới, vì Ngài tin tưởng và trân quý tổ tiên.

Tại sao những luật lệ đó lại cần thiết? Lúc đầu tất cả mọi luật lệ đều nảy sinh do nhu cầu của con người. Đây là chiều hướng mà tất cả những luật pháp có ích ra đời. Có những vấn đề khi cùng chung sống, và những luật lệ được soạn ra để giải quyết vấn đề. Ở đâu, có nhiều người chung sống với nhau thì ở đó có nhiều vấn đề hơn những nơi ít người. Chính quyền của một thành phố lớn phức tạp hơn chính quyền của một ngôi làng nhỏ nhiều. Trung Hoa đã có rất nhiều người. Nhờ có Khổng Tử Trung Hoa đã thu thập nhiều luật lệ. Tất cả những luật lệ này nhằm làm cuộc sống suông sẻ hơn. Những luật lệ này không bị ép buộc như luật lệ giao thông. Những luật lệ này giống phép xã giao hơn.

Luật lệ có nhiều ý nghĩa hơn khi nó rõ ràng rành mạch. Người thích sống trong một xã hội có trật tự cảm thấy thoải mái hơn khi luật lệ xã hội có nội quy rõ ràng và khi chúng định rõ thời gian và nơi chốn. Cứ thế, qua nhiều năm, những người theo Khổng Giáo coi trọng nhiều bản liệt kê luật lệ đặc biệt bao hàm mọi thứ từ chào hỏi và trò chuyện với bạn bè tới lễ lạy tổ tiên. Y phục và đàm luận được qui định. Cả đến tư thế và bước đi cũng được liệt kê, cho nên không ai cố gắng thành thật mà lại có thể không làm được điều phải. Đi theo những luật lệ này chứng tỏ ham thích thực sự cộng tác với người đồng hương của mình.

CÁCH SỐNG HÒA HỢP VỚI NGƯỜI KHÁC: QUÂN TỬ

Để cho người dân biết họ phải sống ra sao, Khổng Tử đưa ra mô hình “Người Quân Tử” hay một người cao quý hoặc sang trọng. Khổng Tử gọi người đó là “sang trọng” hay quân tử vì Ngài có niềm tin là coi những nhà cầm quyền là bậc thầy. Tuy nhiên, bất cứ ai vào bất cứ lúc nào cũng có thể sống như một người Quân Tử.

Người Quân Tử phát triển trong nhân cách của mình. Năm Đức Hạnh Kiên Định (Ngũ Thường) mà người ấy rèn tập cho đến khi chúng tự nhiên như hơi thở. Làm điều phải là một phần không thể tách rời của người quân tử. Khi Khổng Tử nói về chính Ngài rằng chẳng phải cho đến khi Ngài bẩy mươi tuổi Ngài mới đi theo tiếng gọi con tim mà vẫn không vượt qua ranh giới của lẽ phải, có lẽ Ngài quá khiêm tốn hay rất nhún nhường. Tuy nhiên, người theo đạo Khổng chân chính dành thì giờ cần thiết tạo nếp sống theo lẽ phải thành thói quen đến mức không ngưng nghỉ nghĩ đến việc làm điều phải.

(1) Thái đô chính đáng (Nhân). Đức hạnh thứ nhất trong Năm Đức Hạnh Kiên Định là thái độ người Quân Tử mong muốn hòa thuận với người khác. Người Quân Tử biết không thể làm tròn vai trò của mình trong đời sống trừ phi cộng tác và sẵn lòng giúp đỡ. Thái độ chính đáng biểu lộ qua hạnh kiểm. Con người có mầm mống thái độ như vậy ngay trong bản thân mình, nhưng nó phải được giúp phát triển. Đôi khi thái độ đức hạnh này được coi là phép tự chủ bên trong.

(2) Thủ Tục Chính Đáng (Lễ). Đức Hạnh Kiên Định thứ hai là thủ tục thích đáng. Người có một tâm hồn cao thượng đã tiến hành nghiên cứu về nguyên tắc hạnh kiểm. Người ấy biết cách áp dụng chúng vào từng sự việc xẩy đến. Người ấy biết tất cả phép tắc xã giao, những phép tắc này đưa ra cái mà mỗi hoàn cảnh xã hội qui định cho một người có lòng nhân ái đầy đủ. Người ấy biết tất cả những nghi lễ và nghi thức tập trung vào việc tôn thờ tổ tiên. Người ấy biết cách ngồi, cách đứng, cách nói chuyện, cách đi và cách biểu lộ diện mạo sắc thái của mình trong mọi trường hợp. Tuy nhiên, những nghi thức và thủ tục này không giá trị nếu không có một thái độ thích đáng. “Người không có lòng nhân ái trong tâm, thì làm gì với những nghi lễ?”

(3) Kiến Thức Chính Đáng (Trí). Đức Hạnh Kiên Định thứ ba là kiến thức. Người Quân Tử là một người hiểu biết, vì con người phải được giáo dục nhằm ứng phó một cách đứng đắn. Mục tiêu của người theo Khổng Giáo là phát triển dần dần những phép tắc đã thuộc lòng thành thói quen. Những đề tài dạy người ta sửa chữa thói quen tinh thần là lịch sử, văn chương, và bổn phận công dân, đó là những cái hình thành những tác phẩm kinh điển Trung Hoa. Người Quân Tử đặt kế hoach giáo dục của mình gồm tất cả những thiết yếu như vậy. Qua nhiều thế kỷ, những tác phẩm kinh điển Trung Hoa là nền tảng giáo dục tại Trung Hoa. Thời đại tiên tiến đã thay vào những đề tài khác, nhưng người theo Khổng giáo vẫn dành cho các tác phẩm Cổ Điển một sự kính trọng.

Khi Khổng Tử nhấn mạnh tầm quan trọng của giáo dục, Ngài không đề xuất khái niệm mới. Ngài chỉ nhắc lại và nhấn mạnh vào điều tổ tiên đã nói. Trật tự xã hội tùy thuộc vào luân lý căn bản — luân lý trong lời nói và hành động đứng đắn. Cũng giống như người xưa, Khổng Tử tin tưởng luân lý phải được áp dụng vào mọi bình diện cuộc sống, đồng thời nó cũng rất có ý nghĩa trên bình diện chính quyền. Vì người cầm quyền là thầy của tất cả. Những vị thầy này dạy luân lý một cách rất hiệu quả khi họ làm tấm gương tốt về luân lý và khi họ cai trị một cách nhân từ. Chỉ qua một quá trình như vậy thì cuối cùng thời đại vàng son mới sẽ đến, khi tất cả mọi người đối với nhau trong sự ân cần tử tế và coi trọng nhau.

(4) Dũng Khí Đúng Theo Luân Lý (Nghĩa). Theo Đức Hạnh Kiên Định thứ tư, người Quân Tử nên phát triển dũng khí luân lý cần thiết để trung thành với chính mình và đem lòng nhân ái tới xóm giềng. Mọi việc người Quân Tử làm bằng chí khí đó đóng góp đáng giá cho xã hội. Qua từng hành vi của người Quân Tử, mà quan hệ con người được cải tiến.

(5) Kiên Trì Chính Đáng (Tín). Đức hạnh cuối cùng của Năm Đức Hạnh Kiên Định là tầm quan trọng về tư cách của họ — sự kiên định. Người Quân Tử đã hoàn thành bốn đức hạnh, và sẽ kiên quyết hoàn thành. Người Quân Tử bao giờ cũng tử tế và hữu ích. Người Quân Tử lúc nào cũng biết bổn phận của mình và bao giờ cũng biết cách làm bổn phận ấy. Vì người Quân Tử đã phát triển hạt giống đức hạnh trong bản tính của mình, cho nên sống hòa hợp với mọi thứ trong vũ trụ. Vì người Quân Tử có sự hòa hợp trong chính mình, cho nên là một phần của sự hòa hợp vũ trụ. Đó là lý do tại sao người Quân Tử bao giờ cũng làm điều phải đúng lúc.

LÒNG NHÂN ĐẠO HOÀN HẢO

Người theo Khổng Giáo thường nói về “lòng nhân đạo hoàn hảo”. Con người có thể đạt được lòng nhân này vì người theo Khổng giáo tin là có cái gì đó trong mỗi người, ngay từ khi mới lọt lòng. Đó là một tính thiện bẩm sinh hay tính khả ái có thể được phát triển do những cảm nghĩ giúp đỡ người khác. Chính Mạnh Tử, một người theo Khổng Giáo nổi tiếng sau này, là người nhấn mạnh tính thiện bẩm sinh của con người. Khi Mạnh Tử và Khổng Tử nói về tính thiện của con người rút cục có nghĩa là con người thích hợp để sống với người khác. Đúng là có một quá trình sửa soạn lúc đầu, như chúng ta đã nhìn thấy. Cách cư xử, thói quen, kiểu suy nghĩ và những phán xét phải được cải thiện.

Khi một người tự giáo dục lấy mình để thành người Quân Tử, người ấy tử tế, hữu ích và có đạo đức. Hạt giống tính tốt trong chính con người ấy tạo thành các đức tính ấy. Cho nên có thể có nhiều hành động thiện mà người Trung Hoa thật hết hy vọng từng liệt kê tất cả chúng từng hành động một. Khuôn vàng thước ngọc của họ được nói lên bằng ngôn ngữ tiêu cực. Tuy nhiên, nó tràn đầy mối quan tâm vì người khác. “Đừng làm cho người khác điều gì mà bạn không muốn người ta làm điều ấy cho bạn

QUAN HỆ CHÍNH ĐÁNG

Một phần cố gắng làm cho cách sống chính đáng dễ dàng cho mọi người, người theo Khổng Giáo nhấn mạnh năm quan hệ cá nhân quan trọng đòi hỏi phải khả ái và lịch thiệp. Những điều này đã từng được dạy cho từng học sinh, nhưng hệ thống giáo dục này đã bị gián đoạn vào đầu thế kỷ này. Tuy vậy nhiều người theo Khổng Giáo vẫn nghĩ rằng nếu ai nấy đều sử dụng năm Đức Hạnh Kiên Định trong năm mối quan hệ, thời đại vàng son thực sự sẽ bắt đầu. Nếu có hạnh phúc hay hòa hợp, mười người liên hệ trong những giao tiếp này phải sử dụng thái độ có đạo đức và đức hạnh đối với nhau:

(a) Chồng và vợ (Phu thê)
(b) Cha và con (Phụ tử)
(c) Anh và em (Huynh đệ)
(d) Vua v
à tôi (Quân thần)
(c) Bạn và bạn (Bằng hữu)

Xin lưu ý rằng cả hai phía điều mong mỏi là mối quan hệ. Mỗi phía đều chịu trách nhiệm về hành động, nói năng và suy nghĩ trên phương diện khả ái và hữu ích.

Một số người có thể nói rằng điều này chưa đủ. Những người khác trên xứ sở của họ và những vùng đất khác thì sao? Người theo Khổng Giáo giữ lý tưởng khoan dung và khả ái đối với tất cả láng giềng của mình và tất cả người khác trên trái đất. Nhưng cá nhân họ không giao tiếp với tất cả người khác. Phạm vi quen biết của người ấy có giới hạn. Chính vì lý do này mà năm quan hệ cá nhân được liệt kê. Một người hành động bằng lòng tốt và quan tâm đến một số ít người mà người ấy tiếp xúc thường xuyên thì tốt hơn nhiều là chỉ nói miệng về “thương yêu” tất cả con người. Người ấy không bao giờ biết tất cả mọi người. Một đời sống thiện là ở chỗ hành động thích hợp với những người mà ta gặp hàng ngày theo những kinh nghiệm hàng ngày.

TÌNH THƯƠNG YÊU VÀ HIẾU THẢO TRONG GIA ĐÌNH

Từ lâu trước thời điểm sách vở lịch sử bắt đầu, người Trung Hoa tin tưởng rằng bổn phận đầu tiên của một người là đối với cha mẹ. Trong những gia đình lớn theo phong tục Trung Hoa, cha mẹ, ông bà, và các cụ được coi như rất khôn ngoan, rất được thương yêu và rất được tôn kính. Cái chết của họ không giảm đi lòng kính trọng đối với các bậc ấy. Kính trọng tổ tiên là con đường trải rộng “cảm nghĩ gia đình” vượt qua cái chết. Khổng Tử và những người theo Khổng Giáo đã góp phần quan trọng trong việc giữ hiếu đễ tận tụy với cha mẹ đứng hàng đầu trong lý tưởng của Trung Hoa.

Trẻ em tại Trung Hoa không bao giờ được phép tự do lựa chọn và cư xử như trẻ em tại Phương Tây. Chúng được rèn luyện một cách tử tế nhưng rất kiên quyết ngay từ đầu nhằm làm cho chúng có thái độ và cách cư xử thích đáng. Không vâng lời hết sức ít có, và bất hiếu lại còn ít có hơn. Trẻ giữ hiếu với cha mẹ đến mức chấp nhận những quyết định của cha mẹ về chúng, kể cả việc lựa chọn chồng hay vợ. Người Trung Hoa tin rằng những vấn đề như thế cha mẹ khôn ngoan hơn con cái nhiều.

Đương nhiên, tính trung thành với gia đình đã thay đổi rất nhanh với những sự thay đổi khác vào thế kỷ hai mươi. Những phát triển chính trị mới đã gây ra sự đổ vỡ trong truyền thống gia đình cổ và còn có thể gây ra những thay đổi lớn hơn. Tuy nhiên, hiếu thảo là một phần của đời sống Trung Hoa từ lâu và vẫn còn ảnh hưởng tại Trung Hoa.

TÔN KÍNH TỔ TIÊN

Khổng Tử khuyến khích tôn kính và thờ cúng tổ tiên vì Ngài tin rằng việc ấy giúp cho con người phát triển thái độ và hạnh kiểm thích đáng. Khi một người dâng lễ vật trước linh vị người quá cố, người ấy nhớ lại nguồn gốc và tình thương yêu của người quá cố. Kinh nghiệm này giành được từ cảm nghĩ kính trọng và trung thành. Vì một người có hiếu vượt qua cái chết cho thấy mức tận tụy lớn hơn là chỉ kính trọng cha mẹ còn tại thế.

Nhiều người theo Khổng Giáo dâng lễ vật và những vật bị hiến tế để tưởng niệm người chết mà không bao giờ tin rằng thần hồn người chết hiện diện. Những người theo Khổng Giáo thấy việc làm này có giá trị vì việc làm ấy giúp họ xây dựng thói quen tốt về sự kính trọng người khác. Đồng thời việc ấy làm tăng thêm sức mạnh của xã hội. Vì hai lý do đó, Khổng Giáo bao gồm sự thờ cúng tổ tiên trong những mặt quan trọng về sự hành xử của con người.

CÁCH THỜ PHƯỢNG

Khổng Tử không tìm cách thay đổi hay nói nhiều về tín ngưỡng tôn giáo và những sự tu tập ở thời gian Ngài. Đơn giản là Ngài chấp nhận chúng như thế — ở chừng mực chúng vẫn phụng sự xã hội. Ngài không màng tới khái niệm bình dân tôn giáo hay tập tục những cái bỏ qua kinh nghiệm và kiến thức thông thường. Ngài không thích nói về quỷ thần mà nhiều người thờ cúng vì mê tín dị đoan và sợ hãi. Một lần, Đức Khổng Tử nói với một môn đồ hỏi Ngài về quỷ thần, “Trong khi bạn không thể phụng sự con người, làm sao bạn có thể phụng sự được quỷ thần?Đối vối Ngài, thật phí thì giờ để bận tâm về điều mà bạn không biết rõ ràng. Đời sống sau khi chết là một thí dụ khác. “Trong khi bạn không biết đời sống, làm sao bạn có thể biết được về cái chết“. Ta không có thì giờ về những điều ta không thể biết, vì ngay cả biết xóm giềng cũng cần đến một đời người.

Khổng Tử không quan tâm đến khái niệm về Thượng Đế và những vấn đề khác trong thần học. Nhưng Ngài có một sự tận tụy thực sự đối với những buổi lễ tôn giáo cổ, vì Ngài tin những cuộc lễ này giúp xây dựng thái độ và thói quen cần thiết cho một hạnh kiểm thích đáng. Tôn giáo cá nhân của Ngài giới hạn vào sự thờ phượng tổ tiên, cách sống luân lý của Năm Đức Hạnh Kiên Định, và sự công nhận tôn thờ Ngọc Hoàng trên thiên đường. Phần lớn, Khổng Tử chấp nhận tôn giáo cổ Trung Hoa là sự tôn thờ pha trộn các thần thiên nhiên và tổ tiên.

Số đông người Trung Hoa thờ Trời như vị thần tối thượng hay một trong nhiều thần với sự giải thích khác nhau đối với bất cứ vị thần nào. Sự thờ phượng Ngọc Hoàng Thượng Đế đã là một sự thờ cúng hoàng gia, cai quản suốt trong lịch sử Trung Hoa của các vị hoàng đế với những nghi lễ về mùa màng. Rất ít người theo Khổng Giáo cùng với những nhà trí thức Trung Hoa khác, tham dự tích cực vào sự thờ phượng Ngọc Hoàng. Tuy nhiên họ có khuynh hướng ủng hộ những cuộc lễ của nhà Vua là có giá trị vì chúng giúp người dân nhớ lại nguồn gốc của họ.

Nhiều người hỏi: Khổng Giáo có phải là một tôn giáo không? Chính Khổng Tử cũng không cho rằng điều ngài dạy là tôn giáo. Ngài không mong chờ sự thiên khải từ Ngọc Hoàng như một sự ủy quyền về điều ngài dạy. Ngài nói với đệ tử của Ngài kính sợ Ngọc Hoàng là tốt vì đó là một thế lực thông minh, sáng tạo chuyển vận một cách hoàn toàn tự nhiên thông qua Đạo. Trời vô tư và công bằng. Sau này những người theo Không Giáo thêm vào niềm tin này là Ngọc Hoàng là một vị thần, nhưng là một vị thần không có ảnh hưởng gì đến con người hay thế giới mà Ngài tạo ra. Tuy vậy, trọng tâm chính của Khổng Giáo bao giờ cũng là lòng nhân đạo. Mạnh Tử mô tả ý muốn của Trời về những gì có ý nghĩa đối với con người bằng cách nói rằng hãy giữ đúng bản chất của nó là con đường của Trời. Cố gắng trung thực với bản chất của Trời cũng là con đường của con người.

Khổng Tử coi mình là một nhà cải cách xã hội chứ không phải là một nhà lãnh đạo tôn giáo. Ngài mơ ước và làm việc cho một xã hội trong đó con người sống trong sự hòa hợp hoàn hảo. Nếu điều Ngài dạy không phải là tôn giáo thí ít nhất cũng là sùng đạo. Khổng Tử dạy niềm tin của Ngài vì Ngài tin là niềm tin này được hỗ trợ bởi bản chất của mọi sự. Giáo huấn của Ngài là muốn đem con người vào sự phù hợp với thực tế.

ĐIA VỊ CỦA KHỔNG TỬ TRONG LỊCH SỬ TRUNG HOA

Trong cuộc đời mình, Khổng Tử là một bậc thầy được kính trọng, nhưng Ngài chỉ là một trong nhiều bậc thầy. Khi Ngài còn sống, tiếng tăm và sự yêu mến của nhân dân đối với Ngài không bao giờ đủ dẫn đến việc áp dụng những giáo huấn của Ngài trong chính quyền. Trái lại Ngài đã bỏ ra nhiều năm cố thuyết phục hết vị vua này đến vị vua khác áp dụng lý tưởng của Ngài, nhưng tất cả đều vô ích. Ngài có một số môn đồ trung thành tin chắc vào tính hơn hẳn về lý tưởng của Ngài, nhưng những người khác không hoàn toàn đồng ý về ý kiến này. Mãi cho đến mấy trăm năm sau khi Ngài chết, giáo huấn của Đức Khổng Tử về luân lý mới bắt đầu giành được một địa vị quan trọng trong đời sống người Trung Hoa.

Những tác phẩm cổ điễn Trung Hoa mà Ngài đã đầu tư quá nhiều thời gian và tư tưởng vào trở thành cơ sở cho khoa cử công chính về chức vụ chính quyền. Việc này đánh dấu thời buổi toàn bộ mẫu hình đời sống Trung Hoa bắt đầu là Khổng Giáo. Hơn hai nghìn năm tư tưởng của Khổng Giáo chi phối giáo dục, chính quyền và văn hóa. Việc này chính thức bị chấm dứt ngay vào đầu thế kỷ này, nhưng con người thay đổi châm hơn thể chế. Tất cả dân chúng không đột nhiên quên những truyền thống cổ.

Lý tưởng cá nhân của Khổng Tử chưa bao giờ tiến tới mức phát triển trọn vẹn, dù những lý tưởng này uốn nắn tiến trình văn minh Trung Hoa. Đôi khi vua chúa và các chính trị gia dường như tỏ ra thành thật hơn trong thực tế khi họ đi theo giáo huấn về luân lý của Ngài hy vọng sự trung thành bề ngoài với Khổng Tử của họ có thể giành được ủng hộ từ người dân. Đôi khi họ truy tặng chức tước và phẩm hàm cho Ngài và cho các hậu duệ của Ngài.

Ngay sau cái chết của Ngài, Khổng Tử đã được thâu nhận gia đình tôn thờ thành tiên tổ. Những người khác cũng tiếp tay trong việc tôn thờ vì tại Trung Hoa người ta kính trọng thầy như cha mẹ. Giáo huấn của Ngài bao giờ cũng làm những người hâm mộ Ngài quan tâm chứ không bao giờ bằng một hành vi phép lạ hay đặc tính siêu phàm. Khổng Tử được tôn thờ như một vị thánh, nhưng đó chỉ là sự thờ phượng của người vô học tin tưởng rằng điều quan trọng là thờ phượng cho nhiều chứ không phải thờ phượng có suy nghĩ. Có lẽ loại thờ phượng này có thể được mô tả như sự thờ phượng anh hùng đặc biệt. Nói chung, Khổng Tử là một vị thầy lớn tại Trung Hoa và tại Nhật Bản với ảnh hưởng ít hơn. Ngài đã được vinh danh cao hơn bất cứ người nào khác trong toàn bộ quốc gia lịch sử của Ngài.

KHỔNG GIÁO, SỰ SÙNG BÁI TÔN GIÁO

Đôi khi những cố gắng mạnh mẽ được thực thi để cũng cố Khổng Giáo thành quốc giáo, với Khổng Tử hồ như là vị cứu tinh. Những nỗ lực này bị thất bại vì một số lý do. Thứ nhất, người Trung Hoa thường quen với tự do tôn giáo, và khái niệm chỉ có một tôn giáo quốc gia làm họ khó chịu. Thứ hai, dường như họ không muốn biến Khổng Giáo thành tôn giáo như Lão Giáo và Phật Giáo. Có lẽ với họ đã từ lâu đó là cơ sở chính trong đời sống của họ để họ giới hạn nó vào một tôn giáo có tổ chức.

Những phong trào chính trị mới tại Trung Hoa đôi khi đổ lỗi cho Khổng Giáo và Khổng Tử về nhiều điều xấu xa của xã hội Trung Hoa. Việc này một phần là do sự cố gắng làm mất uy tín những truyền thống và tín ngưỡng cổ, hầu mang lại ý tưởng mới cho chính quyền và giáo dục. Ngày nay, Khổng Tử không còn giữ địa vị được kính trọng như trước đây trong ký ức và lịch sử dân tộc của Ngài.

ĐỜI SỐNG ĐÒI HỎI GÌ NƠI CON NGƯỜI?

Dù giáo huấn của Ngài chưa bao giờ đạt được thành công mà Khổng Tử mong muốn cho họ, song một số khái niệm quan trọng của Ngài tồn tại sau cái chết của Ngài và những thế kỷ sau này. Những ý tưởng này đã trở thành một sự đóng góp đặc biệt cho Trung Hoa và quốc gia láng giềng, Nhật Bản, nơi người ta thường thấy giá trị tư tưởng và nghệ thuật Trung Hoa được vay mượn. Thực ra, đời sống và tư tưởng của nhà triết gia khả ái này đã đóng góp vào kiến thức của toàn thể thế giới.

Trên hết, Khổng Giáo kêu gọi mối quan tâm mạnh mẽ về lòng nhân đạo. Lập luận chính của người theo Khổng Giáo với cả hai Phật tử và người theo Lão Giáo đã là họ quay lưng lại với người đồng loại để đi tìm những điều gì tốt nhất cho chính họ. Không bao giờ, không bao giờ nên coi bản thân quan trọng hơn xã hội. Mổi một người phải tìm thấy sự hoàn thành nhiệm vụ trong chính hành động giúp đỡ và biết người khác.

Khổng giáo đòi hỏi những người cai trị và các nhà lãnh đạo một sự giải thích đặc biệt đối với người dân họ trị vì. Lý do duy nhất mà những người cai trị tồn tại là giúp dân được tốt hơn. Nếu khái niệm này được chấp nhận một cách nghiêm chỉnh bởi những nhà lãnh đạo quốc gia, nghệ thuật quản lý nhà nước, sẽ đạt được đỉnh cao mới, và đời sống của tất cả sẽ được cải thiện. Cuối cùng người theo Khổng Giáo nói, cả đến hòa bình thế giới sẽ đạt được.

Ai có thể nói tất cả điều tốt đẹp có thể dẫn đến kết quả nếu gia đình chấp nhận trách nhiệm mà Khổng Tử trao cho họ? Khổng Giáo đặt trước gia đình tầm quan trọng trong công việc gia đình về giáo dục luân lý. Nó vạch ra sự gắn liền luân lý vào đời sống thật tự nhiên và tươi sáng như thế nào.

Đời sống đòi hỏi gì nơi tôi? Theo truyền thống Trung Hoa nói: Nó đòi hỏi thái độ và hạnh kiểm tốt. Nó đòi hỏi bạn chấp nhận quyền lợi của đồng loại phải được đặt trên hết trong sự quan tâm của bạn. Trong cách sống như vậy với người khác, bạn sẽ đạt được điều thiện to lớn nhất — bạn sẽ tìm thấy một địa vị trong thế giới này. Bạn sẽ tìm thấy chính bạn.

Caolang ST.

Thời gian làm việc – thì giờ nghỉ ngơi

Trong tẹp đính kèm trên gồm các nội dung sau:
– Nghị định 195/CP ngày 31/12/1994 của Chính phủ, hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Lao động về Thời gian làm việc – Thì giờ nghỉ ngơi.
– Nghị định 109/2002/NĐCP ngày 27/12/2002 của Chính phủ, sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 195/CP.
-Thông tư 15/2003/TT-BLĐTBXH ngày 03/06/2003 hướng dẫn thi hành Nghị định 109/2002/NĐCP.
– Thông tư 16/2003/TT-BLĐTBXH ngày 03/06/2003 hướng dẫn thời gian làm việc, nghỉ ngơi của người lao động làm các công việc mang tính thời vụ và gia công hàng xuất khẩu.
Trân trọng,
Caolang.

Những thảm họa thiên nhiên trên thế giới năm 2007

Năm 2007, thiên tai tấn công gần như khắp mọi nơi trên thế giới. Dưới đây là những trận thiên tai tàn khốc nhất của năm do tạp chí Time bình chọn.

1. Bão lũ ở Bangladesh

Với đặc điểm là mật độ dân số khá dày (2.639 người/km2) nên khi xảy ra thảm họa, quốc gia Nam Á này thường phải hứng chịu số thương vong rất lớn. Khi cơn bão Sidr ập đến phía nam Bangladesh ngày 15-11 với sức gió 160 km/giờ, hậu quả nó để lại là hơn 1.000 người thiệt mạng, hơn nửa triệu người mất nhà cửa.

Tuy nhiên, nếu so với cơn bão khủng khiếp xảy ra ở Bangladesh năm 1991 làm chết tới 140.000 người thì Sidr hẳn còn rất “khiêm tốn”.

2. Hạn hán ở miền đông nam nước Mỹ

Thường được biết đến với cây trái bốn mùa xanh tươi, nhưng năm nay, bang Georgia và những bang lân cận miền đông nam nước Mỹ đã phải trải qua mùa khô hạn nhất trong lịch sử. Tại thành phố Atlanta, một trong những khu vực có mạng lưới xe điện ngầm phát triển nhanh nhất của Mỹ, lượng nước chỉ còn đủ dự trữ cho 3 tháng. Khi tình trạng khô hạn diễn biến xấu hơn, giữa 3 bang Florida, Georgia và Alabama đã xảy ra cuộc chiến tranh giành nguồn cung cấp nước.

Sau trận khô hạn năm nay, người ta rút ra một điều: nước vô cùng quý giá. Đó mới chính là thứ đảm bảo cho sự phát triển vững bền.

3. Lũ lụt ở Mexico

Với một đất nước còn gặp nhiều khó khăn như Mexico thì lũ lụt chính là một “đại họa”. Những cơn lũ ập tới các bang Tabasco và Chiapas ở phía nam Mexico vào cuối tháng 10 và tháng 11-2007 làm cả hai nơi này gần như chìm trong biển nước. Theo ước tính, khoảng 80% bang Tabasco bị ngập sâu trong nước và khoảng 1 triệu dân phải đi sơ tán. Tổng thống Mexico Felipe Calderon đã phải thốt lên: “Đây quả là một trong những vụ thiên tai khủng khiếp nhất trong lịch sử của Mexico”.

4. Bão Felix

Một loạt cơn bão cấp 5 (cấp cao nhất trên thang xếp loại) đã đổ bộ vào Nicaragua vào ngày 4-9 với tốc độ gió lên đến 160 dặm/giờ. Cơn bão này còn tấn công cả nước Honduras và quét qua một số đảo trên vùng biển Caribê.

Tổng cộng, cơn bão Felix đã làm 101 người chết và cuốn đi những khu dân cư vốn đã quá nghèo khổ bên bờ biển Nicaragua. Chỉ có một chút tươi sáng trong toàn bộ thảm họa kinh hoàng này: cơn bão chủ yếu tràn vào những vùng đất có rừng cây bao phủ, chính vì vậy sức tàn phá của những cơn gió mạnh đã phần nào suy giảm.

5. Phun nham thạch bùn ở Indonesia

Đây không hẳn là một thiên tai mà là do chất lượng kém của một hệ thống khoan khí gas tự nhiên trong một dự án ở thành phố Surabaya. Sự việc bắt đầu vào một ngày cuối tháng 5-2007, khi dòng nham thạch nóng phun lên từ một chiếc hố trước đó đã được khoan nhưng không có các biện pháp xử lý an toàn.

Công ty chủ quản đã cố gắng ngăn chặn dòng nham thạch đó bằng cách lấp ximăng nhưng nó còn phun ra mạnh hơn, nhiều hơn. Đến tháng 10-2007, dòng nham thạch bùn đã phun với tốc độ 170.000 m3/ngày, làm cho các làng mạc, nhà máy gần đó chìm trong chất đặc nhầy và nóng này. Hơn 10.000 người đã mất nhà cửa.

6. Mưa lũ ở Nam Á

Nam Á luôn ở trong trạng thái bấp bênh giữa vô cùng thừa hoặc vô cùng thiếu nước, phụ thuộc vào lượng mưa theo mùa. Mùa hè năm 2007, cả khu vực Nam Á rơi vào tình trạng “dư thừa” nước.

Một loạt trận mưa bất thường đã diễn ra ở Ấn Độ, Nepal, Bhutan và Bangladesh trong tháng 7, tháng 8-2007. Đợt mưa này lớn và kéo dài đến mức UNICEF phải tuyên bố: Đây là trận ngập lụt tồi tệ nhất trong lịch sử.

Giữa tháng 8-2007, khoảng 30 triệu người trong toàn khu vực đã rơi vào cảnh không nhà, hơn 2.000 người chết do mưa lũ. Thiệt hại ước tính ít nhất 120 triệu USD.

7. Lũ lụt ở CHDCND Triều Tiên

Triều Tiên là một quốc gia còn gặp nhiều khó khăn và lại càng thêm khó khăn hơn khi các trận mưa lũ kinh hoàng hồi tháng 8-2007 hoành hành ở miền nam nước này. Hơn 400 người chết, 450.000 tấn lương thực hoa màu mất trắng. Đại hội thể thao Mass (Mass Games), sự kiện thường niên của Bình Nhưỡng, phải hoãn lại.

8. Động đất ở Peru

Peru là quốc gia Nam Mỹ hứng chịu thiệt hại nặng nề nhất từ trận động đất khủng khiếp xảy ra vào ngày 15-8: hơn 500 người chết, 1.366 người bị thương, hơn 50.000 gia đình mất nhà cửa. Thành phố Pisco là nơi bị ảnh hưởng nhiều nhất, với khoảng 80% các công trình xây dựng bị phá hủy, 430 người chết, trong đó có hơn 100 người khi đang cầu nguyện trong một nhà thờ.

9. Cháy rừng ở Hy Lạp

Mùa hè năm 2007 là mùa hè nóng bỏng nhất ở Hy Lạp. Trong suốt ba tháng (6, 7, 8-2007), nhiệt độ không khí vượt quá 41 độ C. Vào tháng 8, vụ cháy rừng tồi tệ nhất đã xảy ra, với các cơn “bão lửa” hoành hành tại Peloponnese, Attica và Euboea làm gần 70 người thiệt mạng.

Người dân ở Olympia, khu vực tổ chức các trò chơi Thế vận hội từ thời cổ đại, cũng phải sơ tán cùng với dân chúng ở phía nam đất nước Hy Lạp. Tổng cộng có hơn 200.000ha đất và cây trồng đã bị thiêu rụi.

10. Lũ ở Trung Quốc

Lũ lụt dường như đã trở nên quá quen thuộc ở vùng miền nam của Trung Quốc, nơi mực nước sông Dương Tử thường xuyên lên cao vào mùa xuân. Mọi công tác chuẩn bị phòng chống lũ và tăng trưởng kinh tế đã giúp hạn chế được nhiều thiệt hại trong vài năm gần đây, nhưng vẫn không thể ngăn chặn được dòng nước.

Những ngày tháng 6-2007, mưa to đã gây nên trận lụt lớn ở miền nam Trung Quốc, bao gồm cả tỉnh Quảng Đông trù phú. Hơn 60 người chết, nửa triệu người phải rời bỏ nhà cửa, thiệt hại về kinh tế ước tính gần 400 triệu USD.

Caolang ST.

10 sự kiện nổi bật trong nước năm 2007

Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” – sinh hoạt chính trị lớn nhất của đất nước trong năm được Thông tấn xã Việt Nam chọn là sự kiện nổi bật đầu tiên trong 10 sự kiện trong nước nổi bật năm 2007. Sau đây là 10 sự kiện do TTXVN bình chọn.

1 – Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” là sinh hoạt chính trị lớn nhất của đất nước trong năm. Được phát động ngày 3/2 nhân kỷ niệm lần thứ 77 ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, cuộc vận động được triển khai sâu rộng với nhiều hình thức phong phú, sinh động, mang lại hiệu quả thiết thực trong xã hội nhằm cổ vũ toàn Đảng, toàn quân, toàn dân thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng.

2 – Việt Nam được bầu làm uỷ viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Ngày 16/10, Đại hội đồng Liên hợp quốc khoá 62 bầu Việt Nam làm Uỷ viên không thường trực Hội đồng Bảo an nhiệm kỳ 2008-2009 với đa số phiếu (183/190), khẳng định uy tín và vị thế mới của Việt Nam trên trường quốc tế.

3 – Bầu cử Quốc hội khoá XII thành công tốt đẹp. Ngày 20/5, hơn 50 triệu cử tri cả nước đã tham gia cuộc bầu cử, lựa chọn được 493 đại biểu Quốc hội khoá XII, nhiệm kỳ 2007-2011.

4 – Kinh tế đạt mức tăng trưởng 8,5%, cao nhất trong vòng 10 năm qua; nguồn vốn đầu tư phát triển được huy động ở mức kỷ lục. Vốn đầu tư toàn xã hội ước đạt 464.500 tỷ đồng, thu hút đầu tư nước ngoài đạt 20 tỷ USD; cam kết viện trợ chính thức của quốc tế lên tới hơn 5,4 tỷ USD; mức vốn hoá của thị trường chứng khoán có quy mô tương đương trên 45% GDP. Tuy nhiên, biến động giá của thị trường thế giới, thiên tai, dịch bệnh trong nước đẩy chỉ số giá tiêu dùng tăng ở mức 2 con số, ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống người lao động.

5 – Việt Nam là 1 trong 20 nước có số người sử dụng internet cao nhất thế giới. Sau 10 năm kể từ khi chính thức kết nối toàn cầu, Internet Việt Nam đã liên tục phát triển, trở thành một thị trường rất sôi động với gần 18 triệu người sử dụng, chiếm 21,24% dân số, cao hơn tỷ lệ trung bình của thế giới (18,9 %) và châu Á (12,4 %).

6 – Tai nạn và ùn tắc giao thông tiếp tục là bức xúc của toàn xã hội. Trung bình mỗi tháng, tai nạn giao thông cướp đi sinh mạng của 1.100 người và gây thương tích cho hàng nghìn người khác. Từ ngày 15/12, hàng chục triệu người tham gia giao thông bằng môtô, xe máy đã đội mũ bảo hiểm theo Nghị quyết 32/CP của Chính phủ. Trong các tháng cuối năm, ùn tắc giao thông phổ biến tại các đô thị lớn đang làm lãng phí hàng triệu giờ lao động mỗi ngày.

7 – Đưa ra ánh sáng trên 440 vụ tham nhũng gây thiệt hại ước tính 286 tỷ đồng. Việc điều tra, xử lý nghiêm minh các vụ án tham nhũng, đặc biệt là 8 vụ án trọng điểm, thể hiện quyết tâm của Đảng, Nhà nước trong đấu tranh, phòng chống tệ nạn này.

8 – Thiên tai, dịch bệnh xảy ra nghiêm trọng tại một số vùng. Bão và 5 trận lũ diễn ra liên tiếp trong tháng 10 và tháng 11 tại miền Trung làm chết và mất tích 126 người, bị thương 88 người, và thiệt hại vật chất ước tính trên 5.000 tỷ đồng. Dịch tiêu chảy cấp nguy hiểm có nguyên nhân từ phẩy khuẩn tả bùng phát ở 14 tỉnh phía Bắc với trên 1.900 ca nhiễm bệnh nhưng đã được khống chế sau 7 tuần kể từ khi phát hiện ca đầu tiên ngày 23/10 tại Hà Nội, không có trường hợp nào tử vong.

9 – Tai nạn thảm khốc trên công trình cầu Cần Thơ và thuỷ điện Bản Vẽ. Hai nhịp dẫn số 13 và 14 của cầu Cần Thơ bất ngờ đổ sập vào lúc 7 giờ 55 phút ngày 26/9, làm 54 công nhân thiệt mạng, 80 người bị thương, trở thành tai nạn thảm khốc nhất trong lịch sử ngành giao thông Việt Nam. Vụ lở núi với khối lượng trên nửa triệu m3 đất đá xảy ra lúc 9 giờ 30 phút ngày 15/12 tại mỏ đá D3, công trường xây dựng thuỷ điện Bản Vẽ, xã Yên Na, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An, làm 18 công nhân và kỹ sư bị vùi chết.

10 – Đoàn thể thao Việt Nam đứng thứ 3 trong bảng tổng sắp thành tích tại Đại hội thể thao Đông Nam Á (SEAGames) 24. Với 64 huy chương vàng, 58 bạc, và 82 đồng, đoàn thể thao Việt Nam hoàn thành chỉ tiêu đặt ra và đạt thành tích cao nhất từ trước tới nay tại một SEAGames không diễn ra tại Việt Nam. Tuy nhiên, thất bại của đội tuyển bóng đá nam U23 đã gây thất vọng lớn cho người hâm mộ./.

(TTXVN)

10 sự kiện thế giới nổi bật năm 2007

 Hiến chương đầu tiên của ASEAN được ký kết tại Hội nghị cấp cao 13 là sự kiện đầu tiên trong 10 sự kiện thế giới nổi bật năm 2007 do Thông tấn xã bình chọn. Dưới đây là 10 sự kiện thế giới nổi bật trong năm 2007:

1/ Hiến chương đầu tiên của ASEAN được ký kết tại Hội nghị cấp cao 13 . Văn kiện này được lãnh đạo các nước ASEAN ký ngày 20/11 tại Xinhgapo, nhằm đẩy nhanh tiến trình liên kết nội khối, xây dựng Cộng đồng ASEAN vào năm 2015 và đưa ASEAN trở thành một tổ chức liên chính phủ ở khu vực có tư cách pháp nhân.

2 / Hội nghị quốc tế về biến đổi khí hậu thành công vào phút chót. Hội nghị quốc tế lớn nhất của LHQ này được tổ chức tại Bali, Inđônêxia, từ ngày 4 đến 15/12, thu hút sự tham dự của hơn 11.000 đại biểu từ gần 190 quốc gia, thảo luận việc xây dựng hiệp ước quốc tế mới, thay thế Nghị định thư Kyoto hết hiệu lực vào năm 2012, về biến đổi khí hậu – một quá trình đã và đang tác động nghiêm trọng đến mọi quốc gia.

3/ Hội nghị quốc tế về hòa bình Trung Đông do Mỹ bảo trợ được tổ chức vào cuối tháng 11 tại thành phố Annapôlít, bang Marilen, Mỹ. Mục tiêu của hội nghị là đạt được một thỏa thuận hòa bình giữa Ixraen và Palextin trong bối cảnh Trung Đông tiếp tục là “chảo lửa” của thế giới với các vụ bạo lực xẩy ra triền miên tại Irắc, làm Mỹ sa lầy sâu hơn tại nước này.

4/ Hiệp ước Lixbon được thông qua tại Hội nghị thượng đỉnh Liên minh châu Âu (EU) ngày 18/10 tại Bồ Đào Nha. Hiệp ước này thay thế dự thảo Hiến pháp EU bị bác bỏ trước đó và là bước đi quan trọng đặc biệt trong quá trình thể chế hoá EU với 27 thành viên.

5/ Tiến trình đàm phán 6 bên giải quyết vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên đạt được sự đột phá . CHDCND Triều Tiên cam kết vô hiệu hóa các cơ sở hạt nhân của mình để đổi lại việc Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và Nga viện trợ về năng lượng và tài chính, bảo đảm về an ninh và công nhận về ngoại giao.

6/ Đại hội lần thứ 17 ĐCS Trung Quốc diễn ra từ 15 đến 21/10 tại Bắc Kinh, tổng kết 30 năm cải cách mở cửa và đề ra phương hướng toàn diện xây dựng CNXH mang đặc sắc Trung Quốc trên cơ sở xã hội hài hòa và phát triển một cách khoa học.

7/ Bầu cử Đuma quốc gia Nga ngày 2/12 với thắng lợi áp đảo nghiêng về đảng “Nước Nga Thống nhất” ủng hộ Tổng thống V. Putin. Việc giành đa số ghế lập hiến tại Đuma (315/450 ghế) cho phép đảng “Nước Nga Thống nhất” duy trì đường lối và ảnh hưởng chính trị của ông Putin sau bầu cử Tổng thống.

8/ Giá dầu và giá vàng tăng kỷ lục (gần 100 USD/thùng dầu và gần 850 USD/aoxơ vàng). Trong bối cảnh đồng đô la Mỹ mất giá nghiêm trọng, nhiều nước có dự trữ ngoại tệ lớn bằng đô la Mỹ và các nước OPEC phải tính đến khả năng chuyển dần sang sử dụng các ngoại tệ mạnh khác để tính giá dầu. Giá dầu cao và nguy cơ cạn kiệt nguồn nhiên liệu đã làm bùng lên cuộc tranh chấp giữa các cường quốc về chủ quyền đối với các vùng đất và đáy biển ở Bắc cực và Nam cực.

9/ Thành công trong việc tạo ra tế bào gốc từ da người – một bước đột phá trong y học – mở ra khả năng tạo tế bào gốc với mã gen cụ thể của cá nhân để chữa các bệnh nan y và loại trừ nguy cơ thải ghép, được các nhà khoa học Mỹ và Nhật Bản công bố ngày 20/11. Trong tương lai, thành tựu này còn giúp khép lại vấn đề gây tranh cãi về đạo đức khi tế bào gốc mới chỉ được lấy từ phôi người.

10/ Bão, lốc xoáy tàn phá Băngla Đét và miền Trung nước Mỹ. Bão Sydr kèm lốc xoáy đổ bộ vào Băngla Đét ngày 15/11 với sức gió lên tới 250km/h, gây triều cường cao hơn 5m, cướp đi sinh mạng của trên 3.300 người, làm bị thương hơn 40.000 người khác. Một trong số 75 cơn lốc xoáy tàn phá 6 bang miền Trung nước Mỹ trong 24 giờ từ ngày 5 đến 6/5 đã xóa sổ cả một thị trấn ở bang Kansas./.

(TTXVN)

%d bloggers like this: