Vịnh Hạ Long

Năm 1962, Vịnh Hạ Long được Bộ Văn hóa – Thông tin xếp hạng di tích danh thắng cấp quốc gia với diện tích 1553 km2 với 1969 hòn đảo. Khu trung tâm Vịnh Hạ Long với diện tích 434 km2 và 775 hòn đảo có giá trị ngoại hạng về cảnh quan và địa chất địa mạo được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc UNESCO 2 lần công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới (năm 1994 và năm 2000).

Vịnh Hạ Long là vùng biển đảo nằm ở phía Đông Bắc Việt Nam, thuộc địa phận tỉnh Quảng Ninh, có tọa độ từ 106056’ đến 107037’ kinh độ Đông và 200 43’ đến 21009’ vĩ độ Bắc. Phía Tây và Tây Bắc Vịnh Hạ Long kéo dài từ huyện Yên Hưng, qua thành phố Hạ Long, thị xã Cẩm Phả đến hết phần huyện đảo Vân Đồn; phía Đông Nam và phía Nam giáp vịnh Bắc Bộ; phía Tây Nam và tây giáp đảo Cát Bà (TP. Hải Phòng). Trên bản đồ thế giới, phía bắc Vịnh Hạ Long tiếp giáp với Trung Quốc; phía đông Vịnh Hạ Long tiếp giáp với Biển Đông.

Khu di sản thiên nhiên thế giới được UNESCO công nhận (Khu vực bảo vệ I – vùng lõi) được giới hạn bởi 3 điểm: Đảo Đầu Gỗ phía Tây; hồ Ba Hầm phía Nam và đảo Cống Tây phía Đông. Khu vực bảo vệ II – vùng đệm được xác định bởi bờ vịnh dọc theo quốc lộ 18A, từ kho xăng dầu B12 (Cái Dăm) đến cây số 11 (phường Quang Hanh, thị xã Cẩm Phả). Khu vực bảo vệ III – vùng phụ cận là vùng biển và đất liền bao quanh khu đệm, kể cả vùng biên tiếp giáp với Vườn Quốc gia Cát Bà (Hải Phòng).

Hạ Long mang tính chất nhiệt đới ẩm với hai mùa rõ rệt: mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều; mùa đông khô, lạnh. Nhiệt độ trung bình từ 15 đến 250C. Lượng mưa hàng năm đạt 2000 – 2200mm/năm. Vịnh Hạ Long có chế độ nhật triều thuần nhất điển hình (biên độ triều từ 3,5 đến 4,0 m. Độ mặn của nước biển từ 31 đến 34,5MT , mùa mưa thấp hơn.

Trong khu vực di sản thế giới Vịnh Hạ Long hiện nay, có một bộ phận cư dân sinh sống, chủ yếu tập trung ở 4 làng chài Cửa Vạn, Ba Hang, Cống Tàu, Vông Viêng với số khẩu trên 1600 người, trực thuộc phường Hùng Thắng, thành phố Hạ Long. Họ sống trên các nhà bè, thuyền chủ yếu bằng nghề đánh bắt và nuôi trồng hải sản.

Khu vực ven bờ Vịnh Hạ Long là nơi cư trú, sinh sống của một bộ phận cư dân thành phố Hạ Long, thị xã Cẩm Phả, huyện đảo Vân Đồn và huyện đảo Cát Bà (Hải Phòng).

Từ xưa, Vịnh Hạ Long đã được Danh nhân văn hoá Nguyễn Trãi đánh giá là kỳ quan đất dựng giữa trời cao. Nói đến Vịnh Hạ Long, trước hết phải nói đến vẻ đẹp thần tiên của non nước mây trời nơi đây. Từ trên cao nhìn xuống, vịnh Hạ Long như một bức tranh thuỷ mặc khổng lồ vô cùng sống động với hàng ngàn đảo đá. Có chỗ thì quây quần, tụ lại xúm xít chen chân, có chỗ lại tách rời riêng biệt, tạo những nét chấm phá cực kỳ tài nghệ. Dưới bàn tay khéo léo, tài hoa của tạo hoá, các đảo đá vô tri, tĩnh lặng trở thành những nhân vật sống động, thân thuộc với con người. Đảo thì giống như đôi gà bên nhau chờn vờn trên sóng nước (hòn Trống Mái), đảo lại giống một chú rùa khổng lồ lim dim ngủ (hòn Rùa) hay như một vị sư già đang chắp tay hướng ra mặt biển tụng kinh niệm Phật (hòn Ông Sư), rồi có đảo lại giống như một chiếc lư hương khổng lồ đứng giữa biển khơi như để cúng tế trời đất (hòn Đỉnh Hương) và còn nhiều, nhiều đảo khác có hình dáng quen thuộc mà chúng ta còn chưa khám phá hết những bí mật thần kỳ.

Biển của Hạ Long bốn mùa một màu xanh đằm thắm. Mùa xuân giữa sóng nước mênh mông trong làn sương bạc che phủ, những đảo đá trở nên uyển chuyển mềm mại, bồng bềnh trên sóng nước. Mùa hè đến, ánh bình minh ló rạng nơi chân trời, những đảo đá như vươn dậy, từ mặt nước bao la. Toàn vịnh mang một màu đỏ rực chuyển dần sang màu xanh lam. Những gợn sóng lăn tăn ánh bạc đua nhau lướt trên mặt vịnh xô vào bờ. Những loài phong lan và cây cỏ vươn ra từ kẽ đá, rực rỡ đơm hoa. Khi thăm vịnh Hạ Long, thú vị nhất là được ngồi trên thuyền buồm, len lỏi giữa rừng đảo đan vào nhau như bức tường thành vô tận chốc chốc lại mở ra cho thuyền ta lách qua. Cảnh cũ khép lại, cảnh mới hiện ra. Con đường quanh co ấy tưởng chừng không bao giờ chấm dứt.

Vẻ đẹp của Hạ Long không chỉ ở dáng núi, sắc nước mây trời mà còn ẩn chứa trong lòng các đảo đá, với một hệ thống hang động vô cùng phong phú tập trung ở vùng trung tâm của Di sản. Động Thiên Cung nguy nga, lộng lẫy, hang Đầu Gỗ khoẻ khoắn, hang Sửng Sốt thì kín đáo thâm trầm… Và còn vô số các hang động đẹp khác gắn liền với những truyền thuyết dân gian như hang Trinh Nữ, hồ Động Tiên… mỗi hang động là một lâu đài kiến trúc nguy nga và vô cùng tinh xảo của tạo hoá.

Vịnh Hạ Long còn mang một vẻ đẹp rất riêng khi hoàng hôn buông xuống. Mặt vịnh lúc này được nhuộm một sắc màu đỏ rực của những tia nắng cuối cùng. Cảnh sắc quyện lại dệt nên những gam màu tuyệt diệu. Khi màn đêm buông xuống, vào những đêm trăng, mặt nước như được dát bạc quyện với màu sẫm của những đảo đá mờ xa khiến cho Vịnh Hạ Long trở nên huyền ảo như thật như mơ.

Ở Vịnh Hạ Long, dường như mỗi hòn đảo, hang động, bãi tắm đều gắn liền với những câu chuyện truyền thuyết về tình yêu, về nhân tình thế thái, và các chiến công giữ nước… khiến du khách như đang sống trong huyền thoại.

Ngày 17/12/1994, trong phiên họp lần thứ 18 của Hội đồng Di sản Thế giới thuộc UNESCO tổ chức tại Thái Lan, Vịnh Hạ Long đã chính thức được công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới, khẳng định giá trị mang tính toàn cầu của Vịnh Hạ Long. Và tháng 11/2000, một lần nữa Vịnh Hạ long lại vinh dự được UNESCO công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới về những giá trị địa chất địa mạo.

Vẻ đẹp của Hạ Long được tạo nên từ 3 yếu tố: Đá, nước và bầu trời. Hệ thống đảo đá Hạ Long muôn hình vạn trạng. Đường nét, họa tiết, màu sắc của đảo núi, hòa quyện với trời biển tạo ra một bức tranh thủy mặc. Hòn Đỉnh Hương toát lên ý nghĩa tâm linh. Hòn Gà Chọi có một chiều sâu triết học. Hòn Con Cóc ngàn năm vẫn đứng đó kiện trời. “Những tảng khối xù xì lạnh xám dường như muốn lưu giữ và gợi nhớ cuộc sống biến chuyển không ngừng đã hóa thân thành hình mái nhà, mẹ bồng con, ông cụ, mặt người…”

Phía trong những đảo đá lớn lại hấp dẫn bởi những hang động đẹp đẽ, kì lạ. Hang Đầu Gỗ gợi cảm giác choáng ngợp với những nhũ đá muôn hình dáng vẻ. Động Thiên Cung như một đền đài hoành tráng, mỹ lệ. Hang Bồ Nâu có cửa uốn vòng cung với vô số nhũ đá buông xuống mềm mại như cành liễu. Hang Sửng Sốt đẹp đến bất ngờ với nhũ đá mang hình hài của gà rừng, cóc, rồng, thác nước cùng với nhiều hình hài khác, như mở ra một thế giới cổ tích. Những hang động như Tam Cung, Trinh Nữ, Ba Hang, Tiên Long… mỗi hang có những vẻ đẹp độc đáo riêng làm mê mải lòng người.

Giá trị địa chất − địa mạo

Giá trị lịch sử địa chất Vịnh Hạ Long được đánh giá bởi 2 yếu tố, đó là: Lịch sử kiến tạo và địa chất địa mạo (Karst)

Giá trị lịch sử kiến tạo: Lịch sử địa chất địa mạo của Vịnh Hạ Long được các nhà khoa học nhận định trải qua ít nhất trên 500 triệu năm với những hoàn cảnh cổ địa lý rất khác nhau, nhiều lần tạo sơn, biển thoái; sụt chìm, biển tiến. Vịnh Hạ Long còn giữ lại được những dấu ấn của quá trình tạo sơn, địa máng vĩ đại của trái đất, có cấu tạo địa lũy, địa hào cổ. Khu vực Vịnh Hạ Long đã từng là biển sâu vào các kỉ Odovic – Silua (khoảng 500 – 410 triệu nẳm trước), là biển nông vào các kỷ Cacbon – Pecmi (khoảng 340 – 250 triệu năm trước), biển ven bờ vào cuối kỷ Paleogen đầu Neogen (khoảng 26 – 20 triệu năm trước) và trải qua một số lần biển lấn trong kỷ Nhân sinh (khoảng 2 triệu năm trước). Vào kỉ Trias (240 – 195 triệu năm trước) khi trái đất nói chung, Châu Âu nói riêng có khí hậu khô nóng thì khu vực Vịnh Hạ Long là những đầm lầy ẩm ướt với những cánh rừng tuế, dương xỉ khổng lồ tích tụ nhiều thế hệ…

Giá trị địa mạo Karst: Vịnh Hạ Long có một quá trình tiến hóa Karst đầy đủ trải qua 20 triệu năm nhờ sự kết hợp đồng thời giữa các yếu tố như tầng đá vôi rất dày, khí hậu nóng ẩm và quá trình nâng kiến tạo chậm chạp trên tổng thể. Vịnh Hạ Long chứa đựng nhiều dạng địa hình Karst kiểu Phong Tùng, Phong Linh. Địa hình Karst kiểu Phong Tùng: Gồm một cụm đá vôi thường có hình chóp nằm kề nhau có đỉnh cao trên dưới 100m, cao nhất khoảng 200m. Địa hình Karst kiểu Phong Linh: Đặc trưng bởi các đỉnh tác rời nhau tạo thành các tháp có vách dốc đứng. Phần lớn các tháp có độ cao từ 50 – 100m. Tỉ lệ giữa các chiều cao và rộng khoảng 6m. Cánh đồng Karst là lòng chảo rộng phát triển trong các vùng Karst có bề mặt tương dối bằng phẳng. Cánh đồng Karst được tạo thành theo phương thức khác nhau như: Do kiến tạo liên quan các hố sụt địa hào; do sụt trần của các thung lũng sông ngầm, hang động ngầm; do tồn tại các tầng đá không hòa tan như bị xói mòn mạnh mẽ nằm giữa vùng địa hình Karst cao hơn vây quanh mà thành… Cánh đồng Karst Hạ Long thường xuyên ngập nước.

Địa hình Karst ngầm: Là hệ thống các hang động đa dạng trên Vịnh, được chia làm 3 nhóm chính: Nhóm 1, là di tích các hang ngầm cổ, tiêu biểu là hang Sửng Sốt, động Tam Cung, động Lâu Đài, động Thiên Cung, hang Đầu Gỗ, Thiên Long,v.v… Nhóm 2, là các hang nền Karst tiêu biểu là Trinh Nữ, Bồ Nâu, Tiên Ông, Hang Trống v.v.. Nhóm 3, là hệ thống các hàm ếch biển, tiêu biểu như 3 hang thông nhau ở cụm hồ Ba Hầm, hang Luồn, Ba Hang…

Karst Vịnh Hạ Long có ý nghĩa toàn cầu và có tính chất nền tảng cho khoa học địa mạo. Môi trường địa chất còn là nền tảng phát sinh các giá trị khác của Vịnh Hạ Long như đa dạng sinh học, văn hóa khảo cổ và các giá trị nhân văn khác.

Giá trị lịch sử − văn hóa

Vịnh Hạ Long là một trong những cái nôi cư trú của người Việt Cổ, đó là:

– Văn hóa Soi Nhụ: (cách ngày nay 18000 – 7000 năm), phân bố trong khu vực Vịnh Hạ Long và Bái Tử Long. Các di chỉ tiêu biểu: Mê Cung, Tiên Ông, Thiên Long… Các di vật còn lại chủ yếu là ốc núi và ốc suối, một số nhuyễn thể nước ngọt và một số công cụ lao động thô sơ. Phương thức sống chủ yếu của chủ nhân Soi Nhụ là “bắt sò ốc, có cả hái lượm hoa quả, đào củ, rễ cây,” biết bắt cá mà chưa có nghề đánh cá. Tích tụ cấu tạo tầng văn hóa chủ yếu là ốc núi (Cyclophorus) và ốc suối (Melania) cùng một số loài nhuyễn thể nước ngọt khác. So với các cư dân Hòa Bình, Bắc Sơn cùng thời thì cư dân Soi Nhụ có lẽ sống với biển gần gũi, tiếp xúc với biển sớm hơn, chịu sự chi phối của biển nhiều hơn, trực tiếp hơn.

Văn hóa Cái Bèo:(Cách ngày nay 7000 – 5000 năm). Là giai đoạn gạch nối giữa văn hóa Soi Nhụ và Hạ Long. Di chỉ Cái Bèo thuộc đảo Cát Bà (Hải Phòng). ở khu vực Hạ Long có những di chỉ thuộc văn hóa này như Giáp Khẩu, Hà Gián… Di chỉ Cái Bèo Là một trong những bằng chứng đầu tiên chắc chắn rằng tổ tiên của người Việt Cổ từ rất sớm đã đương đầu với biển khơi và đã phát triển ở đây một nền văn hóa rực rỡ, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố, sắc thái khác biệt vào một dòng văn hóa truyền thống rất lâu đời trong khu vực Việt Nam và Đông Nam Á: Dòng văn hóa cuội. Phương thức cư trú và sinh sống của người Cái Bèo ngoài săn bắt hái lượm đã có thêm khai thác biển

Văn hóa Hạ Long: (Cách ngày nay 4500 – 3500 năm), được chia ra làm 2 giai đoạn: sớm và muộn

Giai đoạn sớm: Là kết quả trực tiếp của đợt biển tiến Holocen Trung vào khoảng 6000 – 5000 năm trước. Đợt biển tiến này đã làm mất đi môi trường sống của cư dân văn hóa Cái Bèo. Kết quả là một bộ phận chủ yếu của cộng đồng người thuộc văn hóa Cái Bèo theo hệ thống đảo đá của Vịnh Hạ Long và Bái Tử Long chuyển dần lên phía Đông Bắc, để rồi định cư tại vùng ven biển Hải Ninh (thị xã Móng Cái ngày nay) tạo nên loại hình sớm Thoi Giếng của văn hóa Hạ Long. Địa bàn cư trú của chủ nhân nền văn hóa này chủ yếu thuộc các di chỉ Thoi Giếng, Gò Bà Mừng, xóm Chùa, thôn Nam… thuộc xã Vạn Ninh (Móng Cái) có độ cao khoảng 6m so với mực nước biển hiện tại. Phương thức sống: săn bắt, hái lượm. Người Thoi Giếng đã phát triển kỹ nghệ mài theo truyền thống công cụ mài Bắc Sơn. Nghệ thuật chế tác công cụ lao động, đồ gốm bắt đầu phát triển mạnh với sự trợ giúp của kỹ thuật bàn xoay.

Giai đoạn muộn: Là kết quả của mực nước biển dâng cực đại rồi sau đó rút dần (trong khoảng 4000 – 3000 năm trước). Đặc trưng đầu tiên của văn hóa Hạ Long giai đoạn muộn là có những bộ phận người Hạ Long di cư vào các khu vực đồng bằng, trung du miền núi Bắc Bộ. Địa bàn cư trú của người Hạ Long tương đối phong phú, bao gồm một số hang động, chân núi ven biển. Nhưng chủ yếu giai đoạn này, người Hạ Long cư trú trên các doi cát, các bậc thềm và mặt đồng bằng cổ cạnh biển. Khai thác biển vẫn là nghề truyền thống. Phương thức kiếm sống, kỹ nghệ chế tác công cụ lao động tinh xảo: cưa chuốt bóng, Tạo nên những công cụ đá độc đáo mang đặc trưng văn hóa Hạ Long: rìu, bôn có vai có nấc… Gốm xốp trở thành gốm đặc trưng của gốm Hạ Long. (Dẫn theo Hạ Long thời tiền sử. Hà Hữu Nga, Nguyễn Văn Hảo. Hạ Long, 2002)

Văn hóa Hạ Long có một vị trí đặc biệt đối với nền văn minh Việt Cổ.

Vịnh Hạ Long là nơi xuất hiện thương cảng cổ đầu tiên của Việt Nam từ thế kỷ 12 đến thế kỷ 18. Sách “Đại Việt sử ký toàn thư” chép: “Kỷ Tỵ {Đại Định} năm thứ 10 {1149} (Tống Thiệu Hưng năm thứ 19) . Mùa xuân, tháng 2, thuyền buôn ba nước Trảo Oa, Lộ Lạc, Xiêm La vào Hải Đông xin ở lại buôn bán, bèn cho lập trang ở nơi hải đảo, gọi là Vân Đồn, để mua bán hàng hóa qúy, dâng tiến sản vật địa phương” (Đại Việt sử ký toàn thư, bản in Nội các quan bản, mộc bản khắc năm Chính Hòa thứ 18, (5 tập), tập 1, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội. Hà Nội – 1998. Ngô Đức Thọ hiệu đính, chú thích).

Vịnh Hạ Long ghi dấu ấn 3 trận thắng oanh liệt của quân và dân ta trên sông Bạch Đằng, Cửa Lục, Vân Đồn dưới sự chỉ huy của các vị anh hùng dân tộc: Ngô Quyền (năm 938); Lê Hoàn (năm 981) và Trần Hưng Đạo, Trần Khánh Dư (năm 1288) và đặc biệt qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của dân tộc Việt Nam. Vịnh Hạ Long có vị trí chiến lược đối với các vấn đề phát triển kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng của Quốc gia.

Hiện nay, trong khu vực Vịnh Hạ Long cùng sự tồn tại của các cư dân làng chài còn bảo lưu những nét văn hóa độc đáo, phong phú, làm giàu có thêm những giá trị văn hóa bản địa của Hạ Long. Kho tàng văn hóa dân gian còn chứa đựng trong cộng đồng dân chài trên vịnh đa dạng, nhiều vẻ. Những câu ca dao, tục ngữ, thành ngữ… phản ánh tình cảm, những kinh nghiệm làm nghề, được truyền từ đời này sang đời khác, vừa mượt mà, thắm thiết vừa khúc triết, sâu xa. Hát đám cưới, hát giáo duyên, hò biển là một nét văn hóa phi vật thể mang đặc trưng riêng của vùng. Người dân chài cũng phong phú về tín ngưỡng, tập tục và có nhiều nét điển hình trong đời sống kinh tế hàng ngày… Những giá trị văn hóa làng chài Vịnh Hạ Long hiện vẫn là một “cửa ngỏ”, một ‘mảnh đất tốt” cho các nhà nghiên cứu, những người yêu qúy, tôn vinh truyền thống văn hóa dân tộc.

Giá trị đa dạng sinh học

Đa dạng sinh học là một nguồn tài nguyên quan trọng cần được giữ gìn, bảo tồn để duy trì cân bằng sinh thái cho cả khu vực, gồm toàn bộ các dạng sống được tạo nên từ trái đất. Đa dạng sinh học bao gồm cả đa dạng văn hóa, là sự thể hiện của con người, nhân tố quan trọng thuộc các hệ sinh thái.

Đa dạng sinh học Vịnh Hạ Long có thể chia làm hai hệ sinh thái lớn, đó là: Hệ sinh thái rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới và Hệ sinh thái biển và ven bờ.

Hệ sinh thái rừng thường xanh mưa ẩm nhiệt đới:

Tổng số loài thực vật sống trên các đảo ở Vịnh Hạ Long khoảng trên một nghìn loài. Một số quần xã các loài thực vật khác nhau được tìm thấy như: Các loài ngập mặn, các loài thực vật ở bờ cát ven đảo, các loài mọc trên sườn núi và vách đá, trên đỉnh núi hoặc mọc ở của hang hay khe đá. Các nhà nghiên cứu của Hiệp hội Bảo tồn thiên nhiên thế giới (viết tắt chữ tiếng Anh là IUCN) đã phát hiện 7 loài thực vật đặc hữu của Vịnh Hạ Long. Những loài này chỉ thích nghi sống ở các đảo đá vôi Vịnh Hạ Long mà không nơi nào trên thế giới có được, đó là: Thiên tuế Hạ Long, Khổ cử đại tím, Cọ Hạ Long, Khổ cử đại nhung, Móng tai Hạ Long, Ngũ gia bì Hạ Long, Hài vệ nữ hoa vàng.Theo thống kê, hệ sinh thái rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới ở Hạ Long, Bái Tử Long có: 477 loài mộc lan, 12 loài dương xỉ và 20 loài thực vật ngập mặn; đối với động vật người ta cũng thống kê được 4 loài lưỡng cư, 10 loài bò sát, 40 loài chim và 14 loài thú.

Giới thiệu 7 loài thực vật đặc hữu của Vịnh Hạ Long

Hệ sinh thái biển và ven bờ: Bao gồm hệ sinh thái đất ướt và hệ sinh thái biển:

Hệ sinh thái đất ướt: Có thể chia vùng đất ướt của Hạ Long và phụ cận làm 6 dạng sinh thái như sau:

Sinh thái vùng triều và vùng ngập mặn: Khu vực Hạ Long và vùng phụ cận có 20 loài thực vật ngập mặn. Rừng ngập mặn Hạ Long còn đóng vai trò là nơi sống cho nhiều loài sinh vật khác do đó nó mang năng suất sinh thái rất cao. Đây là nơi sống cho 169 loài giun nhiều tơ; 91 loài rong biển; 200 loài chim và 10 loài bò sát và 6 loài khác).

Dạng sinh thái đáy cứng, rạn san hô: Hệ sinh thái san hô là một trong những đặc thù của Vịnh Hạ Long, là hệ sinh thái có năng suất sinh thái cao, giúp làm sạch môi trường nước, tập trung ở Hang Trai, Cống Đỏ, Vạn Gìo… Các rạn san hô ở đây thường có kiểu riềm bờ, với cấu trúc hình thái giống rạn kinh điển như lagun riềm bờ (fringing lagoon), mặt bằng rạn (reef flat) trong và ngoài, mào rạn (crest), sườn dốc (slope) và nền chân rạn (platform reef). Hiện nay, đã thống kê được Vịnh Hạ Long có 232 loài san hô. Đây là nhóm động vật thuộc ngành ruột khoang, trong đó chủ yếu thuộc lớp san hô và lớp thủy tức. Tạo rạn san hô trong Vịnh Hạ Long chủ yếu là các loài của bộ san hô cứng (mặc dù không phải loài san hô cứng nào cũng tham gia tạo rạn). Rạn san hô Hạ Long cũng là nơi sinh cư của 81 loài chân bụng; 130 loài hai mảnh vỏ; 55 loài giun nhiều tơ, 57 loài cua.

Dạng sinh thái hang động và tùng, áng: Hệ sinh thái hang động Karst và tùng, áng của Vịnh Hạ Long là hệ đặc biệt có lẽ ít nơi có được. áng là các hồ chứa nước, nằm giữa các đảo; còn tùng là vùng nước có một cửa tương đối kín, ít sóng. Đây là những điều kiện tự nhiên tạo nên các hệ sinh thái đặc biệt, làm tăng giá trị của vịnh. Tiêu biểu như ở Tùng Ngón là nơi cư trú của 65 loài san hô, 40 loài động vật đáy, 18 loài rong biển. Đặc biệt ở đây có đến 4 loài sinh vật quý hiếm được ghi trong sách đỏ. Một số hang động đã được đầu tư các điều kiện về ánh sáng và đường đi để phục vụ cho việc bảo tồn và tham quan Vịnh Hạ Long nhưng vẫn còn một số động giữ được ở dạng tự nhiên, nguyên sơ chưa tổ chức đón khách…

Dạng sinh thái đáy mềm: Đây là dạng sinh thái của quần xã cỏ biển. Cỏ biển ở Hạ Long có số loài không lớn: 5 loài, nhưng lại là nơi cư trú cho nhiều loài, có tác dụng chắn sóng và tham gia hấp thụ các chất hữu cơ, làm sạch nước biển. Hiện nay, đã thống kê được số lượng các loài sống cùng cỏ biển như sau: 140 loài rong biển; 3 loài giun hiều tơ; 29 loài nhuyễn thể; 9 loài giáp xác.

Dạng sinh thái bãi triều không có rừng ngập mặn: Thường phân bố ở đới triều thấp. Sinh vật sống trên vùng triều đặc trưng là động vật nhuyễn thể hai mảnh vỏ và giun biển có giá trị dinh dưỡng cao như sái sùng, hải sâm, sò, ngao v.v… Hầu hết những nguồn hải sản này đang bị khai thác quá mức.

Hệ sinh thái biển: Hệ sinh thái biển bao gồm: thực vật phù du, động vật phù du, động vật đáy biển và động vật tự du.

Thực vật phù du (TVPD): Là động vật nhỏ sống trôi nổi trong nước, có thể tự dưỡng qua quá trình quang hợp góp phần phân giải chất hữu cơ, hạn chế ô nhiễm nước. Theo kết quả điều tra TVPD ở Vịnh Hạ Long có 185 loài.

Động vật phù du (ĐVPD): Là động vật nhỏ sống trôi nổi trong nước, đóng vai trò mắt xích thứ hai sau TVPD. Sự phân bố của ĐVPD phụ thuộc vào tầng nước và thời gian. Vùng Hạ Long – Cát Bà có 140 loài ĐVPD sinh sống.

Động vật đáy: Nhóm sinh vật sinh sống ở đáy biển, cho giá trị dinh dưỡng cao. Theo thống kê sơ bộ, vùng Hạ Long có đến 500 loài động vật đáy, trong đó có 300 loài động vật nhuyễn thể; 200 loài giun nhiều tơ; 13 loài da gai.

Động vật tự du: Là động vật hoàn toàn có khả năng tự chủ bơi lội trong nước; di cư để tìm mồi, sinh sản hay trú đông. Đến nay người ta đã xác định được 326 loài động vật tự du, phân bố trong vịnh.

Đa dạng loài: Năm 2002, các cơ quan quản lý, nghiên cứu chuyên ngành đã khảo sát nhằm đánh giá, kiểm kê đa dạng sinh học vùng Vịnh Hạ Long. Các nhà khoa học đã khảo sát 7 điểm trong khu vực I của Di sản, đó là:. Khu vực đảo Đầu Bê; đảo Hang Trai; hòn Bù Xám; hòn Mây Đèn, hòn Cóc; hòn Vểu – Đầu Gỗ; hòn Kì Đà, Soi Ván – đảo Vạn Gió; đảo Cống Đỏ. Theo kết quả ban đầu nhận định của các nhà khoa học, Vịnh Hạ Long vẫn giữ được sự đa dạng hệ sinh thái và đa dạng loài vốn có, hơn nữa còn phát hiện thêm nhiều loài mới.

Hiện nay, theo thống kê, tổng số loài trên vịnh có 1847 loài và 30 nhóm loài sinh vật hang động. Hạ Long là nơi tập trung các hệ sinh thái điển hình của vùng biển nhiệt đới như: Hệ sinh thái rạn san hô, cỏ biển, hệ sinh thái rừng ngập mặn, hệ sinh thái tùng áng… Thống kê ban đầu, Vịnh Hạ Long có 189 loài cá, 500 loài động vật đáy, 355 loài sinh vật phù du, 34 loài thực vật ngập mặn.(Báo cáo Hội thảo quốc gia về đa dạng sinh học khu di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long, tháng12/2003 tại TP. Hạ Long)

Đa dạng nguồn gen: Báo cáo kết quả khảo sát phối hợp Việt Nam – ITALIA trong một số khu vực trọng điểm Vịnh Hạ Long vào tháng 4/2003, tại 3 khu vực trọng điểm: Đầu Bê, Hang Trai, và Cống Đỏ. Kết qủa, đã tìm thấy một số loài qúy hiếm ở khu vực này như ốc đụn cái (Trochus niloticus), ốc đụn đực (Tectus pyramis), ốc xoắn vắt (Epitonium Scalarare), bàn mai quạt (Atrina vexillum), tu hài (Lutraria rhynchaena), mực thước (Photololigo chinensis), mực nang vân hổ (Sepia pharaonis). Khoảng 19 loài hải miên (Sponge) lần đầu tiên được xác định ở Vịnh Hạ Long. Các loài này không chỉ có giá trị về đa dạng sinh học mà còn là nguồn dược liệu biển quan trọng. Vịnh Hạ Long đa dạng về hệ sinh thái đồng thời cũng thể hiện sự đa dạng loài, đa dạng nguồn gen, vì khu vực này có điều kiện sinh thái đặc biệt và thuận lợi cho sự phát triển của sinh vật.

Quá trình Vịnh Hạ Long được công nhận là di sản thế giới

Lần thứ nhất

– Ngày 21/12/1991 Chính phủ Việt Nam đã cho phép xây dựng hồ sơ Vịnh Hạ Long để trình Hội đồng Di sản thế giới xét duyệt. Năm 1993, hồ sơ khoa học về Vịnh Hạ Long được hoàn tất và chuyển đến UNESCO để xem xét. Trong quá trình hoàn chỉnh hồ sơ Vịnh Hạ Long, UNESCO lần lượt cử các đoàn chuyên gia đến Quảng Ninh để khảo sát, hướng dẫn, nghiên cứu, thẩm định hồ sơ tại chỗ. Hồ sơ Vịnh Hạ Long được chấp nhận đưa vào xem xét tại hội nghị lần thứ 18 của Hội đồng di sản thế giới.

– Ngày 17 tháng 12 năm 1994, trong kỳ họp thứ 18 tại Phù – kẹt, Thái Lan, Ủy ban Di sản thế giới đã công nhận Vịnh Hạ Long vào danh mục di sản thiên nhiên thế giới với giá trị ngoại hạng về mặt thẩm mĩ theo tiêu chuẩn của Công ước Quốc tế về bảo vệ Di sản tự nhiên và văn hóa của thế gới

Lần thứ 2

– Theo đề nghị của Ban quản lý Vịnh Hạ Long và IUCN, tháng 9/1998, GS. Tony Waltham, chuyên gia đầu ngành về địa chất học trường đại học Trent Nottingham đã tiến hành nghiên cứu địa chất vùng đá vôi Karst Vịnh Hạ Long. GS. Tony Waltham đã gửi bản báo cáo về giá trị địa chất Vịnh Hạ Long tới UNESCO tại Pari, Văn phòng IUCN tại Thụy Sĩ và Hà Nội, Ban quản lý Vịnh Hạ Long. Ngày 25/2/1999, sau khi nhận được báo cáo của GS. Tony Waltham, UNESCO đã gửi thư tới UBND tỉnh Quảng Ninh, ủy ban quốc gia UNESCO Việt Nam và Ban quản lý Vịnh Hạ Long yêu cầu xúc tiến việc chuẩn bị hồ sơ trình UNESCO công nhận về giá trị đại chất, đại mạo vùng đá vôi Vịnh Hạ Long (Karst).

– Tháng 7 năm 1999, hồ sơ trình Hội đồng Di sản thế giới công nhận Vịnh Hạ Long về giá trị địa chất đã được hoàn tất và được gửi đến Trung tâm Di sản thế giới tại Pari. Tháng 12/1999 tại Hội nghị lần thứ 23 Hội đồng Di sản thế giới họp tại thành phố Maraket của Marôc, Hội đồng Di sản thế giới đã chính thức xác nhận vấn đề này và đưa việc thẩm định hồ sơ để công nhận giá trị địa chất Vịnh Hạ Long vào năm 2000. Tháng 3/2000 GS. Erery Hamilton Smith, chuyên gia của tổ chức IUCN được cử đến Hạ Long để thẩm định tính xác thực của hồ sơ, giá trị địa chất cũng như đánh giá về thực trạng quản lý Di sản và đưa ra một số khuyến nghị. Tháng 7/2000, trong kỳ họp giữa năm của Trung tâm Di sản thế giới tại Pari đã chính thức đề nghị Ủy ban Di sản thế giới công nhận Vịnh Hạ Long là Di sản thế giới bởi giá trị toàn cầu về địa chất địa mạo.

– Ngày 2/12/2000, tại Hội nghị lần thứ 24 của Hội đồng Di sản thế giới tại thành phố Cairns, bang Queensland, Australia, Hội đồng Di sản thế giới đã công nhận Vịnh Hạ Long là Di sản thế giới lần thứ 2 theo tiêu chuẩn (i) về giá trị địa chất địa mạo của Công ước Quốc tế về bảo vệ Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới.

(Theo halong.org.vn)

Advertisements
%d bloggers like this: