10 vụ thảm sát tệ hại nhất trong trường học

 

Ngày kinh hoàng ở Trường trung học Columbine: Ngày 20/4/1999, 2 học sinh là Eric Harris và Dylan Klebold – xộc vào Trường trung học Columbine ở Littleton, bang Colorado, giết chết 12 học sinh ở độ tuổi từ 14 đến 18, 1 giáo viên và làm bị thương 24 người. Sau đó 2 hung thủ đã tự sát.

Vụ thảm sát ở Trường Cologne

Thảm họa xảy ra ngày 11/6/1964 ở Trường Cologne, Đức. Mang bình xịt thuốc trừ sâu được cải tạo thành súng phun lửa, Walter Seifert, 42 tuổi, đi vào trường và phun lửa vào số nữ sinh đang chơi trong sân trường và trong lớp học, làm chết 8 học sinh và 2 giáo viên. 20 học sinh khác và 2 giáo viên sống sót với những vết bỏng nặng. Ngày hôm sau hung thủ tự sát bằng thuốc độc trong trại giam.

Vụ cuồng sát ở Trường đại học Texas

Đó là ngày định mệnh 1/8/1966. sau khi giết chết mẹ và vợ, Charles Whitman xách súng lên tháp quan sát Austin của Trường đại học Texas và bắt đầu nhả đạn. Trong cơn điên loạn, hắn đã giết chết 15 người và làm bị thương 31 người trước khi bị cảnh sát bắn chết.

Cuộc tấn công khủng bố vào tỉnh Ma’a lot

Các thành viên của Mặt trận dân chủ vì tự do cho Palestine (DFLP) mở cuộc tấn công kinh hoàng vào tỉnh Ma’a lot, Israel, vào ngày 15/5/1974 – ngày kỷ niệm 26 năm độc lập của Israel.

Vụ thảm sát giết chết 22 học sinh trung học ở thành phố Safed. Ma’a lot – nằm ở vùng Tây Galilee của Israel, cách biên giới Liban chừng 6 dặm về phía nam.

Vụ thảm sát ở Trường đại học Bách khoa MontrealCanada

Ngày 6/12/1989, Marc Lepine, 25 tuổi, đã giết chết 14 sinh viên nữ và làm bị thương hơn 13 người tại Trường đại học Bách khoa Montreal.

Cho đến nay, sự kiện vẫn còn là vụ án mạng kinh khủng nhất lịch sử Canada. Hung thủ tự sát sau khi hành động. Trong bức thư để lại, Marc Lepine cho biết hắn căm thù những người theo chủ nghĩa nữ quyền.

Vụ thảm sát Dunblane, Anh

Ngày 13/3/1996, kẻ thất nghiệp và lãnh đạo Hướng đạo sinh Thomas Hamilton vũ trang hai khẩu súng lục 9mm và hai khẩu Magnum 357 rồi đi vào Trường tiểu học Dunblane để thực hiện ý đồ giết người. Nạn nhân vô tội của hắn là 16 em học sinh và 1 giáo viên. Chính sự kiện kinh hoàng này đã dẫn đến lệnh cấm sở hữu súng ngắn ở Anh.

Vụ thảm sát Erfurt, Đức Ngày 26/4/2002, 18 người mất mạng khi một học sinh bị đuổi học đột nhập trường cũ ở thành phố Erfurt phía đông nước Đức và nổ súng bừa bãi.

Tên giết người đeo mặt nạ và mặc đồ đen đi dọc theo các lớp học bắn chết 14 giáo viên, 2 nữ sinh và 1 cảnh sát có mặt tại hiện trường sau đó tự kết liễu đời mình.

Cuộc tấn công khủng bố Beslan

Ngày 1/9/2004, một nhóm khủng bố người Chechnya đã bắn chết hơn 1.200 con tin bao gồm trẻ em và người lớn ở Trường Số 1 (SNO) trong tỉnh Beslan, Bắc Ossetia. Sang ngày thứ ba, cuộc chạm súng đã nổ ra giữa nhóm khủng bố cầm giữ con tin và lực lượng an ninh Nga.

Vụ thảm sát ở trường Trung học Red Lake Senior

Ngày 21/3/2005, một học sinh 16 tuổi tên là Jeff Weise đã nổ súng giết chết 5 học sinh khác, 1 giáo viên và 1 bảo vệ của Trường Red Lake Senior, bang Minnesota.

Trước đó kẻ giết người hàng loạt đã sát hại ông nội và người bạn của ông.

Cuộc điều tra sau đó cho thấy Jeff Weise đã vào trang web của bọn cuồng tín trước khi ra tay giết người.

Vụ thảm sát ở trường Công nghệ Công nghệ Virginia, Mỹ

Cuộc tấn công xảy ra hai lần cách nhau khoảng 2 giờ đồng hồ vào ngày 16/4/2007 tại Trường Công nghệ Virginia ở Blacksburg, bang Virginia (Mỹ).

Hung thủ là người Hàn Quốc Seung-Hui Cho và những phát súng oan nghiệt đã cướp đi mạng sống của 32 người và làm bị thương nhiều người khác. Sau hành động điên cuồng, hung thủ đã tự sát.

(Theo cand).

Advertisements

Đòn hạt nhân phủ đầu – một bước chuyển nguy hiểm

preloadImages(‘/images/original/2008/01/200801280915572_28.1Nga.jpg’); 

 

Chứng kiến hậu quả bom nguyên tử gây ra cho hai thành phố Hi-rô-xi-ma và Na-ga-xa-ki (Nhật Bản), loài người không khỏi ghê rợn bởi sức tàn phá khủng khiếp cũng như mức độ hủy diệt của nó.

Những tưởng bài học Hê-rô-xi-ma và Na-ga-xa-ki đã cảnh tỉnh toàn nhân loại, khiến loại vũ khí giết người hàng loạt này chỉ còn ý nghĩa răn đe, nhưng những diễn biến gần đây khiến thế giới không khỏi lo ngại về khả năng tái xuất hiện của loại vũ khí này. Ngày 19-1 vừa qua, Tổng tham mưu trưởng quân đội Nga, Đại tướng Y-u-ri Ba-lui-ép-xki tuyên bố rằng Mát-xcơ-va có thể dùng vũ khí hạt nhân để tấn công phòng ngừa trong trường hợp có mối đe dọa lớn. Sau đó vài ngày, 5 nhà chiến lược cao cấp của phương Tây, gồm tướng Giôn Xa-li-ca-xvi-li, nguyên Chủ tịch Hội đồng Tham mưu liên quân Mỹ, nguyên Tư lệnh tối cao của Khối Hiệp ước quân sự  Bắc Đại Tây Dương (NATO) ở châu Âu; tướng Clau No-man, nguyên Tư lệnh quân đội Đức, nguyên Chủ tịch ủy ban quân sự NATO; tướng Hen Van Đen Bri-men, nguyên Tổng tham mưu trưởng quân đội Hà Lan; Đô đốc Giắc-ki Lan-xa-đơ, nguyên Tổng tham mưu trưởng quân đội Pháp và Lót In-gơ, nguyên Tổng tham mưu trưởng quân đội Anh đã tuyên bố đưa ra cái gọi là “Hiến chương cấp tiến cho một NATO mới”. Hiến chương cho rằng nguy cơ vũ khí hạt nhân phổ biến lan tràn đã rõ ràng và đi theo nó là khả năng xảy ra chiến tranh hạt nhân với quy mô hạn chế. Trong xu thế phổ biến hạt nhân đang leo thang, đánh đòn phủ đầu hạt nhân phải được coi là giải pháp cuối cùng để ngăn chặn việc sử dụng các loại vũ khí hủy diệt hàng loạt. Như vậy, cây gậy hạt nhân đã được giơ lên, mặc dù không nhằm vào một quốc gia cụ thể nào, nhưng đáng chú ý là nó lại xuất hiện trong bối cảnh quan hệ giữa Nga – phương Tây đang căng thẳng. Từ lâu, Nga đã tỏ rõ sự bất an với hành động “Đông tiến” của NATO cũng như ủng hộ Cô-xô-vô độc lập và việc Mỹ quyết định đặt lá chắn tên lửa ở Trung Âu. Tuyên bố trên của ông Y-u-ri Ba-lui-ép-xki cho thấy, Mát-xcơ-va không chỉ muốn khẳng định sức mạnh quân sự Nga sau sự trỗi dậy về kinh tế, mà còn buộc Séc và Ba Lan phải cân nhắc khi đồng ý để Mỹ đặt lá chắn tên lửa trong lãnh thổ của mình trong tương lai. Động thái mới này của Nga cũng sẽ tạo hiệu ứng ngầm củng cố vị thế cho ông Tô-mi-xláp Ni-cô-lích, ứng cử viên Tổng thống Xéc-bi-a thân Nga chuẩn bị cho cuộc bầu cử vòng 2 sắp diễn ra. Còn với phương Tây, cử chỉ “hạt nhân” đáp lại sau tuyên bố của Nga chủ yếu là để tăng sĩ khí cho các thành viên, đồng minh và cố kết lại một NATO đang bị chia rẽ trong nhiều vấn đề và nhằm chứng tỏ một ưu thế không thua kém Nga trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, đó chưa phải là tất cả. Sự nguy hiểm của cả hai tuyên bố trên là ở chỗ chúng đã bổ sung thêm cho nội hàm đòn phủ đầu: Từ đòn phủ đầu bằng vũ khí thông thường, vũ khí thông minh tới đòn phủ đầu bằng vũ khí hủy diệt hàng loạt – vũ khí hạt nhân. Thêm vào đó, nó đã tạo bệ phóng đưa vũ khí hạt nhân từ vai trò một công cụ răn đe tới trạng thái sẵn sàng chiến đấu. 

Hậu họa của hành động nguy hiểm này sẽ không chỉ tạo cuộc đua mới trong lĩnh vực hạt nhân quân sự, mà còn tiếp tục làm suy yếu thiết chế chính trị quốc tế Liên hợp quốc và đặt nhân loại trước thảm họa khôn lường, thậm chí là diệt vong.

(Theo Hà Nội mới)

Cảm nhận triết lý tục ngữ, ca dao

Bà ngoại tôi 85 tuổi dương, cộng với 15 tuổi âm, tính cho đến nay cụ tròn một trăm tuổi. Sinh thời bà tôi không biết chữ, nhưng lại là một kho tàng ngạn ngữ ca dao như rất nhiều cụ già khác. Và bà rất ưa thanh sắc.Vì vậy khi cậu tôi lấy vợ bà cụ mủm mỉm cười, bảo: “Ra đường thấy vợ nhà người.Về nhà thấy cái nợ đời nhà ta”.

Cậu tôi cũng gượng cười theo. Lại khi anh con nhà hàng xóm lấy vợ, nghe bảo vợ giàu. Giàu thì kín khó thấy, chỉ dễ thấy chị ấy gầy gò, mặt bủng, da chì, mắt lại có rất nhiều vết trắng. Bà tôi bảo: “Ở đời tham của thì thua. Của ăn thì hết, mà cái phỗng thờ vua hãy còn“.

Ngày ấy tôi còn đang say mê học toán, nên chỉ thấy hay hay, và láng máng một dự cảm rằng đấy là bóng dáng của một thế giới mênh mông huyền bí. Bây giờ thì đã được… một cái năm mươi, học mót được đôi điều càng ngẫm càng thấy các giá trị không thể đo lường hết được của kho tàng vĩ đại là ca dao, tục ngữ, ngạn ngữ…

Sau thời khoác áo lính tôi đam mê khoa học xã hội, vào Tổng hợp Sử, song lại được ưu tiên làm Triết. Trong tất cả các thứ không chuyên cấu thành sự hiểu biết thực tình là rất hạn hẹp của tôi, cái ít không chuyên hơn cả là lĩnh vực lịch sử tư tưởng. Rồi các sự tình nối tiếp nhau xảy ra, tôi lỗi cả phần đời lẫn phần đạo, cả tính cách, cả vốn sống, cả nghề nghiệp và tâm tưởng… tất cả những gì ở tôi nó cứ rối tung lên thành một món… “tả pí lù”. Tôi yêu cả cụ Ngô Tất Tố lẫn Lãng nhân Phùng Tất Đắc, tôi thích như nhau cả Thôi Hiệu lẫn Trần Tử Ngang, tôi mê như nhau cả Bà Huyện Thanh Quan lẫn Hồ Xuân Hương… nhưng trên tất cả tôi say mê ca dao, ngạn ngữ… Mê là mê vậy thôi, chứ nghiên cứu thì không dám… “Lưng vốn nhà cháu nó không được trường… các bác sĩ cho nhà cháu được mua lẻ chứ không dám mua sỉ”.

Cứ như thế, mỗi năm trời lại cho riêng tôi thêm một tuổi. Tôi nhớ bà ngoại, và trở lại với tục ngữ ca dao… kết quả ngày càng thêm… “Hắt xì! Sống khoẻ này! Sống lâu này! Cơm cá này! Cơm thịt này!”. Rồi từ lúc nào chẳng rõ, tôi cũng hay nói như bà ngoại nói: “quá mù sang mưa”, “lửa gần rơm lâu ngày cũng bén”, hơn là nói “Đến điểm tột cùng của khoảng độ, thì sự thay đổi về lượng không còn thuần tuý là sự thay đối về lượng nữa, mà đồng thời gây ra sự thay đổi về chất”, triết học gọi thế là chuyển hoá từ những thay đổi về lượng thành sự thay đổi về chất gọi tắt là quy luật lượng-chất. Nói thế không biết có quá không.

Có người bảo, sức sống của một dân tộc và của một nền văn hoá được thể hiện rõ nhất là qua những cuộc chiến tranh. Người Việt Nam ta về mặt này cứ gọi là … yên trí lớn. Nhưng có lẽ còn cần phải nói thêm về một thể hiện khác, đó là sự cọ sát với những nền văn hoá lạ. Trong văn hoá của ta có rất nhiều hình bóng của văn hoá Ấn Độ, Trung Quốc, Pháp… nhưng dẫu sao họ vẫn chỉ là khách kể cả khi khách thân gia chủ đến mức xuống bếp trông hộ nồi xôi! Khách dẫu có sang đến đâu, “nhập gia” cứ phải là “tuỳ tục”. Cho nên thơ Đường trang trọng hia mũ đến mấy, về tay “Bà chúa thơ Nôm” lập tức mang dáng vẻ rất “hề gậy”: “Một đèo, một đèo, lại một đèo. Khen ai khéo tác cảnh treo leo” Rõ là Ba Đội. “Đến nước Lào thì phải ăn mắm ngóe”.

Triết lý trong tục ngữ, ca dao rất thông minh trong biết đủ biết dừng, đôi khi dừng rất hóm. Một trong những nguyên tắc của thẩm mỹ là biết dừng. Có thể gọi đó là một triết lý trong nghệ thuật hay là nghệ thuật… trong triết lý. Lột ra bằng hết thì còn hay hớm gì. Cho nên nói: “Người xinh cái nết cũng xinh. Người giòn cái tỉnh tình tinh cũng giòn”. Là một lối nói thật hay, thật đủ. Cuộc đời vốn như vậy, khép mở, riêng chung… Cái “tỉnh tình tinh” là cái gì? Xin đừng biến nó thành một đề tài nghiên cứu khoa học. Nó là cái gì mà anh có thể nói chỉ riêng anh thôi, cảm nhận theo cách của anh, khác với lối cảm nhận ở người khác. Tại sao, lại bảo nó giòn, cũng thế. Không ai biến được nó thành một món nhắm rượu. Cho nên nó cứ là một ẩn số, nhờ thế mà nó làm linh mãi trên dòng đời của bao nhiêu thế hệ. Hiện thực không bị “vắt kiệt” thành một “bộ xương khô” mà giữ lại một đầm đìa đời sống. Nó vừa là tài liệu, vừa là nguyên lý, nó vừa khuyến cáo, vừa khoan dung, hàm chứa các cách nghĩ cách cảm khác nhau, đôi khi đối lập nhau. Hiểu nó và vận dụng nó là tuỳ cảnh huống của mỗi thời, mỗi nơi, mỗi người. Bảo là “một giọt máu đào hơn ao nước lã” , “máu chảy đến đâu nuôi bầu đến đấy” thì đã đành, nhưng “bán anh em xa mua láng giềng gần” hay “người dưng có ngãi ta đãi người dưng, anh em không ngãi ta đừng anh em” thì cũng rất thuyết phục. Rằng “một ngày tựa mạn thuyền rồng, còn hơn chín tháng nằm trong thuyền chài” là cách lựa chọn của ai đó mà chưa ai dám bảo là dại, nhưng tha thiết ân tình đến độ “Chồng em áo rách em thương, chồng người áo gấm sông hương mặc người” thì cũng rất thật mà lại rất lãng mạn, ối người vợ như thế “chứ còn gì ạ”.

Theo một lối suy ngẫm nào đó, có thể coi những thể ngữ ca dao đọng lại cho đến bây giờ là kết quả của vô vàn những cuộc tuyển chọn, nên thường là những điều người hôm nay vẫn tâm đắc, gật gù, thấy chúng. nghiệm đúng với mình. Thế là chúng mang tính triết lý. Triết lý chẳng qua là những kinh nghiệm sống, nghiệm đúng nhiều trường hợp. Nghiệm đúng càng nhiều thì triết lý càng nâng cao. Ví dụ người Việt bảo “cha nào con ấy”, thì người Pháp cũng nói “cha nào con ấy” (chỉ khác nói… bằng tiếng Pháp) bởi vì ở đâu cũng vậy, tâm hồn con trẻ là tờ giấy trắng mà dấu ấn gia đình được in lên. Ưu thế của triết lý dân gian là một triết lý có thể được phổ biến bằng nhiều cách, cách nào cũng vẫn “còn thịt”, có mùi vị của cuộc sống, quên câu này còn có thể nhớ câu kia. Cùng một nguyên lý “cha nào con ấy”, người ta còn nói “con ai mà chẳng giống cha, cháu nào mà chẳng giống bà giống ông”, “giỏ nhà ai quai nhà nấy“, “trứng rồng lại nở ra rồng, liu điu lại nở ra dòng liu điu”… và chắc còn nhiều nữa.

Lại nữa, triết lý dân gian vì gắn với đời sống, nên bao gồm cả các vấn đề có ý nghĩa chung nhất của vũ trụ quan và nhân sinh quan, lẫn những vấn đề của những mảng sống hẹp hơn, có dân tộc này có thể không có ở dân tộc kia. Đúng ở vùng này nhưng không đúng ờ vùng khác như: “Thọ tỷ Nam sơn, phúc như Đông hải” chỉ có ở Trung Quốc, ai muốn mượn thì phải ghi chú, hoặc “Thuận vợ, thuận chồng tát biển Đông cũng cạn. Thuận bè, thuận bạn tát cạn biển Đông” thì chỉ có ở Việt Nam. “Đứng bên ni đồng ngó bên tê đồng mênh mông bát ngát, đứng bên tê đồng ngó bên ni đồng, bát ngát mênh mông” thì chắc hẳn không nẩy sinh ở đồng bằng Bắc Bộ… Thế mà vừa triết lý, vừa mô tả, thành ra người đọc không bị chán. Cung cách diễn đạt lại rất linh hoạt uyển chuyển, còn ghi đậm cấu trúc thẩm mỹ của cư dân, nên luôn có yếu tố lạ, mới, gây hiệu quả thẩm mỹ cho người ta và còn nhiều thế mạnh khác làm cho tuổi thọ của chúng rất dài.

Chúng ta còn có thể khảo sát tính triết lý trong tục ngữ, ca dao… theo các bình diện của đời sống: “Chuồn chuồn bay thấp thì mưa” ngập bờ ao thuộc nhóm kinh nghiệm thời tiết: “Thâm đông tím bắc thì mưa. Khép mông nhọn đít là chưa có chồng” là cả thiên nhiên lẫn con người: “Lá rụng về cội”, “Cóc chết ba năm quay đầu về núi” là mối liên hệ với cội nguồn trong đời sống nhân tính: “Anh em như chân tay. Vợ chồng như áo cởi ngay vứt liền”, là một ứng xử của người chồng trước một cuộc cãi lộn chị dâu em chồng…

Chúng ta sẽ lần lượt đi từng ô, trong cả một vườn hoa mênh mông, cả về chủng loại hoa, lẫn độ lớn của khu vườn vô giá này.

Song Phan
Người Hà Nội

Thơ Nguyễn Bính

th%c6%a1-nguy%e1%bb%85n-binh.doc

Trong tệp đính kèm là một số tác phẩm của nhà thơ nguyễn Bính, quý vị nào thích có thể mở ra để đọc hay tải về làm dữ liệu.

Trân trọng,

Cao lang.

Ngoại ngữ – Chiếc chìa khóa vàng khi tìm việc

Thông thạo ngoại ngữ đang dần trở thành một kỹ năng không thể thiếu trong bối cảnh nền kinh tế hội nhập hiện nay. Trên thực tế, nhiều nhà tuyển dụng lớn, đặc biệt là ở các công ty đa quốc gia, thường xem trọng khả năng này. Giữa hai ứng viên có trình độ và kinh nghiệm ngang nhau, ưu thế thường nghiêng về phía người thạo ngoại ngữ.

Tiếp thị bản thân với kỹ năng ngoại ngữ

Trên thực tế, ngày càng có nhiều công ty nước ngoài đầu tư vào Việt Nam, do đó, việc thông thạo một hoặc hai ngoại ngữ đang trở thành điều bắt buộc với mỗi ứng viên. Hiện tại, những ngoại ngữ thông dụng thường bao gồm tiếng Anh, Hoa, Nhật và gần đây nhất là Hàn Quốc.

Nếu bạn có thể nói trôi chảy một thứ tiếng, đừng quên ghi điều này vào hồ sơ tìm việc của mình. Ngoài ra, bạn cũng nên ghi cụ thể cấp độ như sơ cấp, trung cấp hoặc cao cấp và chuẩn bị tinh thần để thể hiện khả năng này trong buổi phỏng vấn. Ngay cả khi nhà tuyển dụng tỏ vẻ không đặt nặng yêu cầu về ngoại ngữ, thậm chí không liệt kê kỹ năng này trong yêu cầu tuyển dụng, họ vẫn tin rằng những ứng viên giỏi ngoại ngữ thường là những người thông minh, lanh lẹ và dễ thích nghi với sự thay đổi.

Mặc dù hiện tại chưa có thống kê chính thức về tương quan giữa trình độ ngoại ngữ và mức lương, nhưng thực tế cho thấy cánh cửa cơ hội thường mở rộng hơn đối với những ứng viên khá ngoại ngữ.

Đầu tư vào kỹ năng

Nếu bạn có ý định đầu tư vào ngoại ngữ trong năm mới, hãy vững tin rằng đây là lựa chọn sáng suốt. Mặc dù mọi người vẫn nghĩ rằng học ngoại ngữ nên học khi còn nhỏ, nhiều nhà ngôn ngữ học cho rằng điều này chỉ đúng với việc học phát âm. Chuyên gia ngôn ngữ học Robert DeKyser khẳng định rằng khi học đến ngữ pháp, người lớn có khả năng tiếp thu nhanh hơn.

Học ngoại ngữ ngày nay rất dễ dàng. Có rất nhiều trung tâm ngoại ngữ “mọc” lên khắp nơi, trên mọi thành phố. Nếu bạn không có nhiều thời gian để đi “thăm dò” từng trung tâm một, bạn có thể tìm thông tin qua mạng hoặc truy cập Edu.VietnamWorks.com – nơi có rất nhiều thông tin về các khóa học với những trung tâm uy tín.

Trong trường hợp bạn muốn củng cố lại kiến thức nhưng không có thời gian để tham gia các khóa học, bạn có thể vào các website dạy ngoại ngữ miễn phí như bbc.co.uk hoặc word2word.com.

Để học tốt một ngoại ngữ, bạn có thể sử dụng các bí quyết dưới đây:

– Dành thời gian đọc sách, báo bằng tiếng nước ngoài.
– Xem phim hoặc nghe radio bằng ngôn ngữ bạn đang cần học.
– Tiếp xúc với người nước ngoài có thể qua các website như mylanguageexchange.com hoặc friendsabroad.com
– Quan sát môi của người bản ngữ khi họ phát âm một, sau đó nhìn vào gương và cố gắng bắt chước như họ.
– Mua một quyển từ điển mini để tham khảo mỗi khi rãnh rổi.

Cuối cùng, bạn nên ghi nhớ một điều: khi học bất kỳ kỹ năng nào, kể cả ngoại ngữ, điều cần thiết là sự kiên trì. Hãy dành ra một khoảng thời gian mỗi ngày để luyện tập và sau một thời gian, bạn sẽ thấy mình tiến bộ rõ rệt và cơ hội sẽ gõ cửa bạn nhiều hơn! Chúc bạn thành công!

(Theo vietnamworks)

Nghệ thuật hát chèo

 

Đã hàng trăm năm nay, nghệ thuật hát chèo, tuồng, múa rối nước, dân ca v.v… là những loại hình nghệ thuật truyền thống độc đáo của Việt Nam. Trong đó nghệ thuật hát chèo đã được những người nông dân miền Bắc Việt Nam rất yêu thích. Đặc biệt nó được phổ biến rất rộng ở đồng bằng sông Hồng.
Đọc tiếp

Quan niệm về mặc và nguồn gốc nông nghiệp trong chất liệu may mặc của người Việt

Đối với con người, sau ăn thì đến Mặc là cái quan trọng. Nó giúp cho con người đối phó được với cái nóng, cái rét của thời tiết, khí hậu. Nhân dân ta nói một cách đơn giản : Được bụng no, còn lo ấm cật .Vì vậy, cũng như trong chuyện ăn, quan niệm về mặc của người Việt Nam trước hết là một quan niệm rất thiết thực : “Ăn lấy chắc, mặc lấy bền và Cơm ba bát, áo ba manh, đói không xanh, rét không chết”.

Nhưng mặc không chỉ để đối phó với môi trường, mặc có một ý nghĩa xã hội rất quan trọng : “Quen sợ dạ, lạ sợ áo”. Người ta hơn kém nhau nhiều khi bởi nó :

Hơn nhau cái áo manh quầnThả ra ai cũng bóc trần như ai”và người ta khổ sở nhiều khi cũng vì nó: “Cha đời cái áo rách nàyMất chúng mất bạn vì mày áo ơi!”Mặc trở thành một nhu cầu không thể thiếu được trong mục đích trang điểm, làm đẹp cho con người: “Người đẹp về lụa, lúa tốt về phân, chân tốt về hài, tai tốt về hoa”.Mỗi dân tộc có cách ăn mặc và trang sức riêng, vì vậy, cái mặc trở thành biểu tượng của văn hóa dân tộc. Mọi âm mưu đồng hóa sau khi xâm lăng đều bắt đầu từ việc đồng hóa cách ăn mặc. Từ nhà Hán cho đến Tống, Minh, Thanh, các triều đại phong kiến Trung Quốc xâm lược luôn kiên trì dùng đủ mọi biện pháp buộc dân ta ăn mặc theo kiểu phương Bắc song chúng luôn thất bại. Các vua nhà Lí, Trần cho dạy cung nữ tự dệt vải, không dùng vải vóc nhà Tống. Trong lời hiệu triệu tướng sĩ đánh quân Thanh, Quang Trung viết : “Đánh cho để dài tóc, đánh cho để đen răng…” Vậy cái riêng trong cách mặc của người Việt là gì? Đó trước hết là cái chất nông nghiệp, mà chất nông nghiệp thì thể hiện rõ nhất trong chất liệu may mặc.  

 

 Ảnh minh hoạ

Chất liệu may mặc, để đối phó hữu hiệu với môi trường tự nhiên, người phương Nam ta sở trường ở việc tận dụng các chất liệu có nguồn gốc thực vật là sản phẩm của nghề trồng trọt, cũng là những chất liệu may mặc mỏng, nhẹ, thoáng, rất phù hợp với xứ nóng. Trước hết, đó là tơ tằm. Cùng với nghề trồng lúa, nghề tằm tang có từ rất sớm. Trong những di chỉ khảo cổ thuộc hậu kì đá mới cách nay khoảng 5000 năm (như di chỉ Bàu Tró), đã thấy có dấu vết của vải có dọi xe chỉ bằng đất nung. Cấy lúa và trồng dâu, nông và tang – đó là hai công việc chủ yếu luôn gắn liền nhau của người nông nghiệp Việt Nam. Người Trung Hoa từ xưa cũng đã luôn xem đó là hai đặc điểm tiêu biểu nhất của văn hóa phương Nam; trong chữ “Man” mà Trung Hoa xưa dùng để chỉ người phương Nam có chứa bộ trùng chỉ con tằm.Từ phương Nam, nghề tằm tang đã được đưa lên phương Bắc. Sách Hoàng Đế nội kinh nói về việc này một cách hình tượng là “khi Hoàng Đế chặt đầu Si Vưu thi thần Tằm Tang dâng lụa cho ông” (hiểu là : khi bộ lạc phương bắc do Hoàng Đế làm thủ lĩnh chiến thắng bộ lạc phương Nam do Si Vưu làm thủ lĩnh thì người phương Bắc tiếp thu được bí quyết nghề trồng dâu nuôi tằm của phương Nam). Các sách cổ Trung Quốc như Thủy kinh chú, Tam đô phú, Tề dân yếu thuật đều nói rằng đến đầu công nguyên, trong khi Trung Quốc một năm chỉ nuôi được 3 lứa tằm thì năng suất tằm ở Giao Chỉ, Nhật Nam, Lâm ấp một năm đạt được tới 8 lứa. Để có được nhiều lứa tằm trong năm, tổ tiên ta đã lai tạo ra được nhiều giống tằm khác nhau phù hợp với các loại thời tiết nóng, lạnh, khô ẩm. Đây là một nghề hết sức vất vả cực nhọc : Làm ruộng ba năm không bằng chăn tằm một lứa; Làm ruộng ăn cơm nằm, nuôi tằm ăn cơm đứng. Từ tơ tằm, nhân dân ta đã dệt nên nhiều loại sản phẩm rất phong phú : tơ, lụa, lượt, là, gấm, vóc, nhiễu, the, đoạn, lĩnh, dũi, địa, nái, sồi, thao, vân,… mỗi loại lại có hàng mấy chục mẫu mã khác nhau.

Đến TK XVI-XVIII, khi mà tơ lụa Trung Quốc sản xuất với số lượng nhiều đã chiếm lĩnh thị trường thế giới thì tơ lụa Việt Nam vẫn được đánh giá rất cao do chất lượng của nó. Năm 1749,

một người phương Tây là Poivre nhận xét: “Tơ lụa Đàng Trong so với Trung Quốc thì hơn hẳn về phẩm chất và sự tinh tế. Tơ đẹp nhất là của vùng Quảng Ngãi. Người Trung Quốc mua đi rất nhiều và kiếm lời được từ 10-15%”. Trong số 27 mặt hàng chính mà Nhật Bản nhập của Việt Nam thời kì này (ghi lại trong sách Hòa Hán tam tài đồ sương) thì riêng vải lụa đã chiếm 11 mặt hàng. Thời thuộc Pháp, tơ lụa Việt Nam đã trở thành một nguồn lợi to lớn. Riêng trong khoảng 1909-1913, hằng năm Việt Nam xuất sang Pháp 183,3 tấn tơ lụa các loại. Theo điều tra của P- Gourou, trong số 108 nghề thủ còng khác nhau có ở đồng bằng Bắc Bộ vào năm 1935 thì nghề dệt đứng hàng đầu với tổng số trên 54 nghìn thợ dệt. Ngoài tơ tằm, nghề dệt truyền thống của Việt Nam còn sử dụng các chất liệu thực vật đặc thù khác như tơ chuối, tơ đay, gai, sợi bông .

Vải tơ chuối là một mặt hàng đặc sản của Việt Nam mà đến TK VI, kĩ thuật này đã đạt đến trình độ cao và rất được người Trung Quốc ưa chuộng. Họ gọi loại vải này là “vải Giao Chỉ”. Sách Quảng chí chép : “Thân chuối xé ra như tơ, đem dệt thành vải… Vải ấy dễ rách nhưng đẹp, màu vàng nhạt, sản xuất ở Giao Chỉ”. Cho đến tận TK XVIII, loại vải này vẫn rất được ưa chuộng, Cao Hùng Trưng trong sách An Nam chí nguyên còn ca ngợi : “loại vải này mịn như lượt là, mặc vào mùa nực thì hợp lắm”. Vải dệt bằng sợi tơ đay, gai cũng xuất hiện khá sớm. Đất đai và khí hậu Việt Nam rất thích hợp cao những loại cây này phát triển, tổ tiên ta không những biết tận dụng khai thác nguồn nguyên liệu sẵn có này mà còn thuần dưỡng chúng thành loại cây trồng phổ biến. Sách Trung Quốc thời Hán, Đường đều nói rằng đay, gai ở An Nam mọc thành rừng, dùng để dệt vải. Vải đay gai bền hơn vải tơ chuối nhiều; đem cây đay gai ngâm nước cho thịt thối rữa ra, còn lại tơ đem xe thành sợi dệt vải thì vải cũng mịn như lượt là . Sử sách nước ta ghi: “cứ mỗi tháng vào ngày mồng một, thường triều đều mặc áo tơ gai “.Nghề dệt vải bông xuất hiện muộn hơn nhưng ít ra cũng từ các thế kĩ đầu công nguyên. Sách vở Trung Hoa gọi loại vải này là vải cát bối. Sách Lương thư giải thích: “Cát bối là tên cây, hoa nở giống như lông ngỗng, rút lấy sợi dệt thành vải trắng muốt chẳng khác gì vải đay”. Kĩ thuật trồng bông dệt vải từ phương Nam du nhập sang Trung Hoa vào TK X đến TK XI, vải bông trở thành mốt đến nỗi người Trung Quốc dương thời kêu là “vải bông mặc kín cả thiên hạ”. Trong khi sở trường của phương Nam ta là các loại vải nguồn gốc thực vật thì người phương Bắc có sở trường dùng da thú là sản phầm của nghề chăn nuôi làm chất liệu mặc, thêm vào đó, da (và lông) thú lại rất phù hợp với thời tiết phương Bắc lạnh. Mùa lạnh ở Việt Nam, bên cạnh cách mặc đơn giản và rẻ tiền nhất là mặc lồng nhiều áo vào nhau, người ta may độn bông vào áo cho ấm (áo bông, áo mền.. ). Người nông thôn còn dùng loại áo làm bằng lá gồi, gọi là áo tơi mặc đi làm đồng vừa tránh rét,tránh mưa, vừa tránh gió.(Theo cinet)

%d bloggers like this: