Thế giới vi khuẩn – những điều thú vị

Vi khuẩn ăn đủ thứ. Loại vi khuẩn lam có món “khoái khẩu” là nước và sau đó nhả ôxy vào không khí. Đây là loại vi khuẩn có hóa thạch cổ xưa nhất trên trái đất.

Ở đâu trên trái đất mà không có vi khuẩn? Trong đất, nước, không khí, từ núi lửa đến biển sâu, chỗ nào cũng có sự hiện diện của “cái que nhỏ” kích thước cực nhỏ. Đó là “cư dân” cổ xưa và đông đảo nhất trên trái đất này. Trong thế giới rộng lớn của vi khuẩn chứa đựng biết bao điều thú vị.

Có mặt ở khắp nơi và ăn đủ thứ

Antony Van Leeuwenhoek là người đầu tiên nhìn thấy vi khuẩn vào năm 1683 bằng kính hiển vi tự chế. Ngày nay, các nhà khoa học đã xác nhận, trong 1 lít nước biển có tới hơn 20.000 loại vi khuẩn khác nhau. Toàn bộ cơ thể của chúng ta là “căn cứ khổng lồ” cho hàng tỷ vi khuẩn.

Lớp da của mỗi người là “mảnh đất” của hơn 100 triệu vi khuẩn cư trú. Chúng ở đường ruột, mũi, miệng, trong không khí, thức ăn, nước uống của con người. Có nhà nghiên cứu đã thốt lên: “Thì ra thế giới quanh ta toàn là vi khuẩn!”.

Vi khuẩn ăn đủ thứ. Vi khuẩn lam ăn… nước rồi nhả ôxy vào không khí. Loại vi khuẩn quang dưỡng thì chuyên ăn ánh sáng. Những loại khác lại thích món lưu huỳnh, khí hydro hay nhiều thứ vô cơ khác. Có nhóm vi khuẩn ưa dùng các loại hữu cơ như đường, axít hữu cơ… hay các dưỡng chất như nitơ, vitamin, hoặc các nguyên tố kim loại như magiê, mangan, sắt, kẽm, đồng, niken…

Các nhà khoa học đã phát hiện một số loại vi khuẩn hình sao, sống ở đáy biển và chỉ thích ăn dầu lửa. Có loại lại thích ăn đất và nhả ra vàng.

Sức chịu đựng không giới hạn

Vi khuẩn có sức chịu đựng dường như không giới hạn. Nếu như con người ở trong nhiệt độ xấp xỉ 100 độ C thì chắc chắn sẽ “chín” ngay sau ít phút. Nhưng một số loại vi khuẩn lại ưa sống ở những miệng núi lửa có nhiệt độ cao trên 100 độ C. Những loại vi khuẩn thích “luyện đan” như thế thuộc dòng vi khuẩn chịu nhiệt.

Thân nhiệt bình thường của con người là 37 độ C và nếu giảm xuống dưới 20 độ C, cơ thể sẽ rơi vào hôn mê và tim ngừng đập. Con người sẽ không thể sống ở điều kiện nhiệt độ thấp nếu không có các công cụ hỗ trợ. Nhưng vi khuẩn thì khác. Có dòng vi khuẩn ưa sống trong lớp băng lạnh giá ở cực trái đất, nơi nhiệt độ xuống tới âm 40 độ C… Đó là dòng vi khuẩn chịu lạnh.

Đặc biệt hơn nữa, trong môi trường axít khắc nghiệt vẫn có vi khuẩn sinh sống. Ngoài ra có những loại vi khuẩn ưa nước mặn, ưa môi trường kiềm và thậm chí không cần đến cả không khí vẫn sống khỏe.

Những công dụng kỳ lạ

Ngoài những công việc “thường ngày” của mình như tham gia sản xuất bánh mì, pho mát, bia và rượu; hay tạo ra rất nhiều hóa chất như kháng sinh, chất dẫn xuất nylon và insulin…, vi khuẩn còn làm được rất nhiều việc lạ đời.

Người ta đã lấy dòng vi khuẩn có khả năng phát sáng để sản xuất ra những vật dụng phát sáng trong nhà như ghế, bàn, đèn. Đã có hẳn một dự án về vi khuẩn phát sáng. Ngạc nhiên hơn nữa, vi khuẩn còn có khả năng “chụp ảnh”. Các “máy ảnh sống” này được giới khoa học sử dụng để nghiên cứu về công nghệ gene.

Với những loại vi khuẩn ưa “đánh chén” chất thải phóng xạ thì không có gì tuyệt vời hơn. Trong khi vấn nạn chất thải phóng xạ đang làm đau đầu giới khoa học và làm vơi hầu bao của nhiều quốc gia giàu có thì các nhà khoa học Mỹ đã phát hiện có tới hàng trăm loại vi khuẩn sống trong bãi rác phóng xạ và ăn dần chất thải đó.

Vi khuẩn biến đổi gene được dùng làm chất nổ tổng hợp để chế tạo tên lửa, làm keo dính (được coi là loại keo dính bền nhất thế giới), pin chạy bằng năng lượng vi khuẩn…

Nhiều người nổi tiếng nhờ… vi khuẩn

Heinrich Hermann Robert Koch (1843-1910) là một bác sĩ và nhà sinh học người Đức. Ông đã tìm ra trực khuẩn bệnh than, trực khuẩn lao và vi khuẩn bệnh tả, đồng thời đưa ra nguyên tắc Koch nổi tiếng. Để khẳng định loại vi khuẩn nào đó có là nguyên nhân gây ra một bệnh nhất định hay không thì phải thỏa mãn tất cả tiêu chuẩn của nguyên tắc Koch.

Koch phát minh ra phương pháp nhuộm vi khuẩn mới làm chúng dễ nhìn và dễ xác minh hơn. Kết quả của những công trình này là sự mở đầu cho phương pháp nghiên cứu vi khuẩn gây bệnh.

Ông đã được trao giải Nobel dành cho Sinh lý và Y học cho các công trình về bệnh lao vào năm 1905 và được coi là một trong số những người đặt nền móng cho vi khuẩn học.

Giải Nobel 1945 được trao cho Alexander Fleming (1881-1955) cùng với Ernst Boris Chain và Howard Walter Florey do việc tìm ra và phân tách penicillin – kháng sinh đầu tiên điều trị bệnh nhiễm trùng. Bác sĩ Fleming nổi tiếng vì vô tình hắt hơi vào một đĩa nuôi cấy vi khuẩn và nhờ đó đã tìm ra chất lysozyme, một dạng kháng khuẩn nhẹ. Và lần thứ hai, do ông bỏ quên đĩa nuôi cấy vi khuẩn nên đã phát hiện ra một loại nấm mốc xanh có khả năng kháng khuẩn. Đó chính là cơ sở để phát minh ra thuốc kháng sinh penicillin sau này của ông.

Giải Nobel năm 2005 dành cho hai nhà khoa học Australia là J.Robin Warren và Barry J.Marshall vì đã khám phá ra nguyên nhân gây viêm loét dạ dày là vi khuẩn Helicobacter Pylori, mở ra hướng điều trị mới, hiệu quả cho căn bệnh mà có tới một nửa dân số thế giới mắc phải. Đây được coi là công trình đã làm đảo lộn hoàn toàn quan niệm của y học trước đó về bệnh dạ dày.

(Theo sinhhocvietnam.com)

Advertisements

Giai thoại về Chuột

Để tìm hiểu loài Chuột như thế nào? Chúng ta có thể quả quyết rằng: Loài Chuột có lông nhiều dày rậm, lỗ tai nhỏ, mỏ và đuôi dài. Chuột lại là loài gặm nhấm, nhưng còn  sanh sản rất nhanh và nhiều,  cho nên chúng nó cắn phá khủng khiếp, không chừa nơi nào, ở  trong nhà thì đào hang, khoét vách, cắn phá gạo nếp, thức ăn thức uống khi quên đậy, kể cả giấy má .v.v. rồi làm ổ đẻ liên tục và ở ngoài đồng thì cắn phá hột giống, mùa màng cũng như các nông phẩm của nông dân như : lúa, bắp, khoai .v.v. Vì thế họ hàng nhà Chuột đi đến đâu, thì mọi người điều sợ sự phá hoại của Chuột, nếu ghe tàu nào bị Chuột đến ở, thì cũng khốn khổ không ích.

Ngoài ra,  loài Chuột  cũng  tạo  nên  bịnh  dịch hạch làm cho sự chết chốc lên đến hàng trăm ngàn người tại nhiều nước trên thế giới, ví như tại Athène (Hy Lạp) vào năm 429 trước Công Nguyên, hoặc các nước khác như Ai Cập, Thổ Nhỉ Kỳ, Ý Đại Lợi, Pháp.v.v. cũng bị sát hại vì bịnh dịch này, người ta đã thống kê chỉ 7 năm, kể từ năm 1346 đến năm 1353 số người bị chết trên thế giới như sau : Âu Châu gần 25 triệu người và Á Châu cũng gần 23 triệu người và được người đời xem như là một thiên tai.

Vì Chuột thường đem tai họa đến cho loài người như vậy, nên người thường kiếm đủ cách để loại trừ Chuột ví như : Thuốc Chuột, đặt bẫy Chuột, dậm cù Chuột .v.v. 

Đặc biệt, khi bắt được Chuột con sống, người ta may lỗ đít nó lại, rồi thả nó trong nhà, nó bị bí ỉa cho nên nó lập tức cắn đuổi đồng bọn nó chạy khỏi nhà và cắn chết luôn mấy con Chuột con, sau đó nó cũng chết theo luôn.

Tuy vậy Chuột là con vật ranh mảnh khôn ngoan, khó lòng bị tiêu diệt hết. Người ta thường kể, Chuột muốn tha một cái trứng gà to về ổ mà không bị bể, Chuột đã biết để một con nằm ngửa ôm trứng, miệng ngâm đuôi con khác để con này kéo về ổ… (Bđd Viên Giác 91, trang 29 do Cụ Phan Hưng Nhơn viết)

Do vậy, Trời sanh Chuột thì phải sanh Mèo hay Rắn để trừ diệt Chuột,  nếu không loài người khó sống nỗi với Chuột, bởi  tai họa  về Chuột  tạo  nên. Tuy  nhiên,  loài Chuột cũng có giúp ích cho nhân loại. Bởi vì, bắt loài Chuột để làm cuộc thí nghiệm y khoa, ngõ hầu tìm được các loại thuốc trị bịnh cứu sống chúng ta và riêng thịt Chuột là một đặc sản thực phẩm đáng kể nữa, nếu ai đã từng về : Long Xuyên, Châu Đốc, Cần-Thơ, Ô-Môn, Rạch Giá, Sa Đéc, Sóc Trăng …thuộc miền Hậu Giang, vào mùa bắt Chuột, thì thấy Chuột được bày bán trắng phiếu, vì đã thui và lột da xong, người mua đem về chế biến 7 món ăn về Chuột như chơi, nào là: Chuột nướng, Chuột chiên tươi hay muối với sả ớt, Chuột xào hành, Chuột bầm xào Lá Cách hay Lá Lốt hoặc Chuột bầm rồi ướp gia vị để làm nhưn bánh Xèo v.v.

Nhân nói về món ăn bằng thịt Chuột, xin trích dẫn một trong những món ăn liên quan đến con Chuột, trong dịp Bà Từ Hi Thái Hậu, đời nhà Thanh  bên Trung Hoa, khoản đãi phái đoàn sứ thần thuộc các  quốc  gia Tây Phương, nhân dịp mừng Xuân Canh Tý 1874. Tiệc được chuẩn bị 11 tháng 6 ngày trước, có 1750 người phục vụ, tốn kém 98 triệu hoa viên thời bấy giờ tương đương 374 ngàn lượng vàng ròng, gồm 400 thực khách và kéo dài suốt 7 ngày đêm bắt đầu giờ giao thừa Tết  nguyên đán năm Canh Tý.

Đó là món Sâm Thử  tức là con Chuột được nuôi bằng sâm.

Trong quyển Món Ăn Lạ Miền Nam, tác giả Vũ Bằng tường thuật món sâm thử như sau : Chuột mới đẻ đem nuôi trong lồng kính cho ăn toàn sâm thượng hảo hạng và uống nước suối, đến khi đẻ ra con thì lấy những con đó nuôi riêng cũng theo cách thức đó để sanh ra một lớp Chuột mới, nhưng lớp Chuột mới nầy vẫn chưa dùng được. Cứ nuôi như thế đến đời thứ ba, Chuột mới thực là “thập toàn đại bổ”, người ta mới lấy những con Chuột bao tử của thế hệ mới này ra ăn và ăn như thế thực là ăn tất cả cái tinh hoa, bén nhậy, khôn ngoan của giống Chuột cộng với tất cả tính chất cải lão hoàn đồng, cải tử  hoàn sanh, tráng dương bổ thận của cây sâm vốn được y lý Đông Phương đặt lên hàng đầu thần dược từ cổ chí kim trong trời đất. …

Nguyên đại sứ Tây Ban Nha thuật lại rằng, đến món ăn đặc biệt ấy thì có một ông quan đứng lên giới thiệu trước rồi quân hầu bưng lên bàn tiệc cho mỗi quan khách một cái dĩa con bằng ngọc trong đó có một con Chuột bao tử chưa mở mắt, đỏ hỏn hảy còn cựa quậy, nghĩa là một con Chuột bao tử sống. Bao nhiêu quan khách thấy thế chết lặng đi, bởi vì nếu phải theo giao tế mà ăn cái món này thì … nhất định phải …trả lại hết những món gì đã ăn trước đó. Mọi người nhìn nhau? Bà Từ Hi Thái Hậu cầm nĩa xúc con Chuột bao tử ăn để cho mọi người bắt chước ăn theo. Con Chuột kêu chi chí, người tinh mắt thấy một tia máu vọt ra … Hoàng Đế Trung Hoa thông thả vừa nhai vừa suy nghĩ như thể muốn kéo dài cái thú ăn tuyệt diệu ra để cho cái thú ấy thấm nhuần trí óc và cơ thể. Và Ngài nói: “Mời Chư Vị”. Nhưng không một vị nào đụng đũa, cứ ngồi đơ ra mà nhìn. Bà Từ Hi Thái Hậu bèn cười mà nói đùa : ” Tôi tiếc không thấm nhuần được cái văn minh Âu Mỹ của các Ngài, nhưng riêng vế cái ăn thì tôi thấy quả các Ngài chậm tiến, không biết cái gì là ngon là bổ. Về món đó, các Ngài có lẽ còn phải học nhiều của người Á Đông”. Không một ông nào trả lời, vì có lẽ các ông đại diện ấy đến lúc ấy đều bán tín bán nghi không biết ăn Chuột bao tử như thế là văn minh hay dã man. Tuy nhiên, người ta có thể chắc chắn là chưa có một nước nào trên thế giới lại có một món ăn tinh vi, quí báu, cầu kỳ đến thế bao giờ… Chính  ông đại sứ Tây Ban Nha phải nhắm mắt lại thử ăn, nhưng ông thú thực rằng vừa cho vào miệng cắn một cái thấy Chuột con kêu chi chí, ông ta vội vàng chạy ra ngoài nhả ra và một tháng sau còn sợ. Sau này, đem câu chuyện đó nói với mấy vị đông y sĩ, ông ta biết rằng người Âu Mỹ không biết ăn cái món ấy, quả là “châm biếm” và mấy ông già còn cho biết thêm rằng Chuột thường nuôi bằng sâm bổ hết sức rồi, nhưng nếu tìm được giống Chuột Chù mà nuôi bằng sâm theo cách thức nói trên thì còn bổ gấp trăm lần nữa … (tài liệu này do Mọt Sách  sưu tầm và tường thuật).

Trong loài Chuột, không những có các tên ở vừa kể ở trên kia, mà còn có các tên khác, xin trích dẫn như sau :

Chuột Lắt : Đây là loài Chuột nhỏ con bằng ngón tay cái hoặc lớn hơn một chút, nó thường sống ở trong nhà, rất lanh lợi, sanh sản rất nhiều và thường cắn phá khủng khiếp. 

Trong dân gian, thấy đứa con nào hoặc người nào có thân hình nhỏ con thường phá phách gia đình hay xóm làng, thì cũng được gọi là Chuột Lắt.

Chuột Xạ: cũng thường gọi Chuột Chù, cũng có thân hình nhỏ con, mỏ dài và nhọn, đuôi rất ngắn. Đặc biệt,  nó có mùi hôi xạ khó ngửi cho nên có cái tên là Chuột Xạ và Mèo cũng sợ mùi xạ hương này, nên cũng lánh xa. Chuột Xạ không cắn phá và lanh lợi hơn Chuột Lắc, nó thường ở hộc tủ, gầm giường hay trong hang và đi sát đất, rất chậm lụt, thường kêu chít chít như Chuột rúc vậy. Trong dân gian thường quan niệm điềm may mắn hay phát tài là:

Thứ nhứt đơm đóm vào nhà,

Thứ nhì Chuột rúc,

Thứ ba hoa đèn.

Chuột Dừa : là loại Chuột thường sanh sống ở trên cây dừa, ít xuống đất, nó chỉ  cắn phá  cây dừa  và  ăn cơm dừa, uống nước dừa mà sống, thân hình nó lớn bằng cườm tay. Vì thế, nó mới có tên là Chuột Dừa, loại Chuột này thường thấy những tỉnh trồng nhiều dừa như ở Bến Tre, thịt nó thơm ngon đặc biệt, bởi vì nó ăn uống bằng trái dừa rất tinh khiết.

Ngoài ra, những loại Chuột hoang đã đơn cử ở trên, chúng ta còn thấy loại Chuột người nuôi để làm cảnh. Đó là:

Chuột Bạch: là loại Chuột nhỏ con, có lông màu trắng và thường thấy ở bên Tàu, cho nên nó có tên là Chuột Tàu. Người nuôi Chuột Bạch hay Chuột Tàu này phải tốn tiền mua Chuột, mua lồng Chuột đặc biệt, dể nó biểu diển và tốn thức ăn chớ không phải như các loại Chuột hoang khỏi săn sóc gì cả. Nhưng bù lại, người nuôi Chuột này được xem những trò biểu diển của nó và làm cảnh cho vui cửa vui nhà.

(Theo khoahoc.net)

“Một nụ cười bằng 10 thang thuốc bổ”- Vì sao?

Trung bình một người cười 13 lần trong một ngày, nếu vui vẻ có thể còn nhiều hơn. Tiếng cười có lợi ích gì trong cuộc sống con người? Sau đây là những thông tin mong phần nào giải đáp cho bạn đọc câu hỏi trên.

1. Cười có tác dụng bồi  bổ tế bào thần kinh: Khi cười, các bộ phận xương, cơ toàn thân rung động, co giãn từng đợt liên tục một cách tự nhiên, có tác dụng lưu thông tuần hoàn, hoạt huyết, máu sẽ đưa đến tim, não và các cơ quan khác  nhiều hơn. Cười to kích thích hai bán cầu đại não, giúp tăng cường khả năng tiếp thu các sự kiện mới và lưu giữ những thông tin cũ. Nếu bạn tạo được không khí vui vẻ khi dạy trẻ, sẽ thấy chúng tiếp thu nhanh hơn và nhớ lâu hơn.

2. Cười tăng cường chức năng các cơ quan nội tạng: Khi cười, tuyến thượng thận tăng tiết corticoid, giúp cơ thể tăng cường sức đề kháng, chống đỡ các quá trình stress, dị ứng. Khi cười, cơ hoành được nâng lên hạ xuống, các cơ bụng co bóp, tác động vào bộ máy tiêu hóa, giúp ruột tăng nhu động, chống táo bón, tăng hoạt động của các tuyến tiêu hóa, giúp hấp thu được nhiều chất dinh dưỡng hơn. Các cơ quan như gan, thận, lách… cũng nhờ máu lưu thông mà tăng cường các chức năng của chúng.

3. Cười tăng cường chức năng hô hấp: Khi cười to, cười thoải mái, làm phổi thở ra liên tục, tác dụng làm sạch đường thở, đẩy các khí độc ra khỏi cơ thể. Tiếp theo là hít vào sâu làm tăng tính đàn hồi của nhu mô và các tiểu phế quản, ôxy được đưa nhiều vào cơ thể, chống hiện tượng xơ dính các tổ chức kẽ và màng phổi.

4. Cười to rất tốt cho tim mạch: Theo bác sĩ Paul Mc.Ghee thì y học hiện đại đã chứng minh cười là “vận động tâm hồn, là thể dục tốt cho tim mạch”. Sau những dịp vui chơi với bạn bè, tay bắt mặt mừng, nói cười vui vẻ thì huyết áp ổn định và hạ thấp. Những người vô tư, luôn tươi cười thì ít bị ngoại tâm thu và bệnh tăng huyết áp.

5. Vui cười làm tăng hệ miễn dịch: Người ta nghiên cứu thấy khi cười hệ bạch cầu tăng, mà bạch cầu như đội quân xung kích, là những vệ sĩ đắc lực của cơ thể, là hàng rào lý tưởng ngăn chặn các yếu tố ngoại lai có hại xâm nhập vào cơ thể, do đó cười giúp cơ thể chống lại bệnh tật rất tốt.

6. Cười giúp cơ thể trẻ lâu, tăng tuổi thọ: Khi cười, 17 cơ mặt rung động, co giãn nhịp nhàng, nên cười có tác dụng làm mờ các nếp nhăn ở trán, khóe mắt và rãnh mũi má. Người có tính tình vui vẻ, luôn tươi cười sẽ giữ được nét mặt trẻ lâu, giữ được phong độ trẻ trung khi về già mà không cần phải dùng đến các mỹ phẩm đắt tiền, đôi khi mỹ phẩm lại gây dị ứng có hại cho sắc đẹp.

7. Cười làm tiêu hao bớt năng lượng dư thừa: Trong những dịp lễ tết, được nghỉ ngơi bồi dưỡng, tư tưởng thoải mái, có nhiều người khỏe thêm ra, tăng cân. Từ thời xa xưa, ông cha ta đã biết tổ chức các cuộc vui chơi, hội hè, đình đám rất có ý nghĩa. Khi tham gia hội, mọi người phấn chấn reo hò, cười nói hết mình, làm cho không khí ngày vui náo nhiệt, để lại những ấn tượng khó quên và sau cuộc vui, cơ thể tiêu bớt được số năng lượng dư thừa.

8. Cười có tác dụng giảm bớt áp lực công việc: Trong khi lao động nặng nhọc, đi xe, đi bộ đường dài…, mọi người thường mệt mỏi, buồn ngủ thì những câu chuyện tiếu lâm, hài hước thường được mọi người hưởng ứng bằng những trận cười thoải mái, mệt nhọc sẽ bị xua tan, chán nản chuyển thành tin tưởng, mọi người trở nên hăng hái làm việc. Sau những giờ học hoặc họp hành căng thẳng, giờ giải lao, mọi người kể những câu chuyện vui cười sẽ làm giảm nhẹ sức ép của công việc và học tập.

9. Cười xua tan phiền muộn: Khi bạn có việc bức xúc, lo lắng, thì nên cùng bạn bè đến những nơi vui chơi giải trí. Các trò chơi sẽ đưa bạn hòa vào không khí vui nhộn, ồn ào, những cảnh ngộ nghĩnh, kỳ lạ khiến bạn phải bật cười. Thế là bạn tăng thêm lạc quan yêu đời. Tiếng cười không những xua tan nỗi ưu tư, bực bội, mà còn giúp bạn nảy sinh những ý tưởng mới để giải quyết công việc một cách minh mẫn và chính xác.

10. Cười là cách bày tỏ tình cảm: Khi tham gia cuộc chơi, mọi người được bình đẳng, ai cũng được quyền pha trò và cùng cười thoải mái, làm cho không khí trở nên thân thiện, rút bớt khoảng cách thứ bậc, khiến cho người nhút nhát, rụt rè thêm tự tin. Nụ cười là chất xúc tác bất ngờ trong giao tiếp dễ gây được thiện cảm, làm cho mối quan hệ trở nên thuận lợi, nhanh chóng đạt kết quả theo ý muốn.

Nụ cười là liều thuốc bổ hoàn toàn miễn phí, bạn đã không phải trả tiền mà còn được hưởng tác dụng vô giá của nó. Cười quả là một kho thuốc vô cùng quý giá. Mọi người nên cố gắng tạo nụ cười thường trực trên môi là một bí quyết tăng cường sức khỏe và giúp bạn gặt hái được những thành công trong cuộc sống.

(Theo bao Suc khoe va doi song)

CÁC HÀM TRONG EXCEL

Mời các bạn xem chi tiết các loại hàm và cách sử dụng như nội dung bên dưới Đọc tiếp

Những câu chuyện phía sau bài thơ “Tây tiến”

(ANTĐ) – Hầu hết những thế hệ học trò ngày nay đều đã từng được học qua bài thơ “Tây tiến” của nhà thơ Quang Dũng. Một bài thơ mặc dù được làm từ những năm 40 thể kỷ trước nhưng đến nay vẫn được đánh giá là có sức lôi cuốn cả một thế hệ thanh niên, vừa bi sảng, vừa hào hoa.

Những câu chuyện xung quanh “Tây tiến” mà tôi viết lại dưới đây là những câu chuyện lần đầu tiên được kể bởi chính nhạc sĩ Quang Vĩnh – con trai cả của cố nhà thơ Quang Dũng hiện đang sống tại Thái Nguyên.

Ông Quang Vĩnh trong một lần trà dư tửu hậu đã băn khoăn, rằng ông muốn viết lại những câu chuyện về cha mình, nhưng ngại miệng tiếng: người nhà khen nhau. Thế nên, tôi xin tình nguyện làm anh thư lại chép những câu chuyện ấy hầu bạn đọc.

“Tây tiến” đã “bị” sửa như thế nào

Quang Dũng tham gia đoàn quân Tây tiến năm 1947 và hành quân lên Tây Bắc với nhiệm vụ phối hợp với bộ đội nước bạn để bảo vệ vùng biên giới Việt Lào. Đến tận bây giờ người ta vẫn còn nhớ như in những câu thơ oai hùng về đoàn quân Tây tiến:

Tây tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng Kiều thơm

Ban đầu, bài thơ được Quang Dũng lấy tựa đề là “Nhớ Tây tiến”. Nhưng có một điều là Quang Dũng sáng tác rất nhiều thơ, tuy vậy không hiểu tại sao ông lại có nhiều trăn trở nhất đối với riêng bài thơ này.

Ông Quang Vĩnh kể lại, về sau ông còn nhớ có nhiều lần thấy cha mình ngồi rất lâu trước một cuốn sổ tay băn khoăn về cái tít vỏn vẹn có 3 chữ ấy. Có lẽ “Tây tiến” là một kỷ niệm đáng nhớ nhất trong cuộc đời binh nghiệp của Quang Dũng nên bài thơ thấm đẫm linh hồn đoàn quân hào hoa ngày nào, ông luôn muốn có một sự chỉn chu đến từng câu chữ.

Cuối cùng đến một ngày Quang Dũng lấy bút sổ béng đi chữ “Nhớ”. Mặc dù khi ấy còn nhỏ, nhưng ông Vĩnh cũng đã buột miệng hỏi sau khi thấy cha “bóp trán” hàng năm trời mà chỉ sửa được vọn vẹn duy nhất một từ: “Chữ “Nhớ” đâu có ảnh hưởng nhiều đến vần điệu bài thơ sao bố nghĩ gì mà lâu thế?”. Khi ấy Quang Dũng chỉ cười mà rằng: “Tây tiến, nhắc đến là đã thấy nỗi nhớ rồi. Thế nên để chữ nhớ là thừa.

Không cần thiết nữa con trai ạ”. Đến quãng năm 1956 có lẽ vẫn chưa “dứt duyên” nổi với “Tây tiến” nên một buổi sáng Quang Dũng lại mang cuốn sổ thơ của mình ra “ngâm cứu”. Rồi như cần đến một người tri kỷ, Quang Dũng gọi con trai lại và hỏi: “Con đọc cho bố nghe cả bài thơ rồi cho nhận xét xem nó thế nào”. Khi ấy tôi còn rất nhỏ – ông Vĩnh nói – mới học lớp 7 nên nào biết cảm nhận văn chương thơ phú nó ra làm sao, thậm chí đọc bài thơ ấy còn thấy hơi… ngang ngang.

Nhà thơ Quang Dũng và bút tích bài thơ “Tây tiến”

Tuy vậy, nhưng ra vẻ con nhà nòi, ông Vĩnh cũng “phán” bừa một câu rằng: “Con thấy câu Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người nghe nó cứ “chối” thế nào.

Hay bố thay cái địa danh khác vào nghe cho nó hợp chứ Mường Hịch nghe nặng nề quá”. Thực ra lúc ấy ông Vĩnh chỉ thấy nó có vẻ không vần điệu lắm với khổ thơ trên, nhưng nghe vậy Quang Dũng ngần ngừ một lát, rồi suy tính thế nào lại mỉm cười nói, thế thì không ổn con trai ạ.

Mãi về sau ông Vĩnh mới vỡ lẽ ra cái sự ngần ngừ không ổn ấy bắt nguồn từ một nguyên do, Mường Hịch còn là một địa danh gắn liền với kỷ niệm bất ngờ của cha mình. Đó là trong một lần hành quân, đoàn quân Tây tiến đã dừng chân ở Mường Hịch gần sông Mã. Người dân nơi đây kể cho Quang Dũng về một con cọp đã thành tinh chuyên bắt người ăn thịt. Rất nhiều dân lành đi rừng đã bị con cọp này vồ mất xác.

Thấy bộ đội có súng nên một số người dân đã ngỏ lời nhờ bộ đội Tây tiến diệt trừ giúp. Vốn là người gan dạ, khỏe mạnh, mới nghe thế máu mã thượng trong người Quang Dũng đã bốc lên. Ông gọi một số anh em trong đơn vị lại rồi lấy một con lợn trói tại gốc cây làm mồi bẫy, còn bản thân cùng anh em chia nhau nấp đợi hổ về.

Nửa đêm, dân làng nghe thấy mấy tiếng súng vọng lại từ rừng già, rồi sau đó là tiếng hổ gầm điên loạn, gần sáng thì thấy Quang Dũng dẫn đầu một tốp bộ đội hớn hở tìm về, người ngợm ướt đẫm sương. Mãi sau này người ta mới biết, lúc bị thương con hổ điên cuồng chống trả, Quang Dũng phải nổ mấy phát súng mới kết liễu được nó. Vậy mà cái địa danh đáng nhớ ấy, suýt nữa thì ông Vĩnh cắt mất của cha mình.

Quang Dũng… còn sống

Mặc dù có người cha là một nhà thơ từng được đánh giá là “nhà thơ mang trong mình dòng máu lãng du vào loại bậc nhất trong thi đàn đất Việt thế kỷ XX” nhưng ông Quang Vĩnh không bao giờ khoe khoang điều đó. Với đám con của mình, ông luôn dặn, ra ngoài đừng bao giờ vỗ ngực là cháu của Quang Dũng cả. Chính vì thế mới xảy ra câu chuyện nực cười.

Đó là khi con gái ông, chị Bùi Phương Lê ngày còn đi học phổ thông, một hôm học đến bài thơ “Tây tiến” của ông nội. Thực ra với chị Phương, bài thơ này đã được chị đọc tới cả trăm lần, đã được ông Vĩnh kể lại cho hàng trăm lần về những kỷ niệm của ông nội trên đường ra trận. Thế nhưng không hiểu sao tiết văn học hôm đó, cả lớp học lại đặc biệt hứng thú với bài thơ này.

Cụ Bùi Thị Thạch – vợ nhà thơ Quang Dũng cùng di cảo chồng để lại Ông Quang Vĩnh – Con trai nhà thơ Quang Dũng

Rất nhiều câu hỏi của học sinh đưa ra về nội dung bài thơ cho thầy giáo. Và để chứng minh mình là người am hiểu, ông thầy hôm đó đã cao hứng kể: Mới tuần trước tôi còn ngồi với Quang Dũng dưới Hà Nội. Rằng câu chuyện về đoạn thơ này, nhà thơ Quang Dũng lấy tứ ở đâu, khổ thơ kia lấy cảm hứng chỗ nào. Chính Quang Dũng tâm sự với tôi như thế. Tóm lại là nghe… như thật.

Mặc dù rất băn khoăn, nhưng khi đó chị Lê cũng phải sững sờ vì thực tế khi đó Quang Dũng đã mất được chục năm. Hết giờ học, chị về kể lại điều đó với ông Vĩnh. Không chỉ riêng ông Vĩnh mà cả nhà đều tròn xoe mắt. Riêng bà Bùi Thị Thạch – vợ nhà thơ Quang Dũng, bây giờ vẫn ở chung với con giai trưởng thì cười độ lượng: “Ông mày làm một bài thơ mà bây giờ thành bất tử.

Thế là hơn đứt nhiều người rồi còn gì”. Tất nhiên, câu chuyện Quang Dũng đột nhiên sống lại trong một tiết văn học của học sinh cấp III đến nay chỉ có gia đình nhà thơ biết và mỗi khi nhắc đến những kỷ niệm về Quang Dũng, bà Thạch vẫn tường thuật lại câu chuyện đó như một cách trách yêu ông chồng tài hoa của mình.

Bài thơ Tây tiến đáng giá bao nhiêu?

Bút tích “Tây tiến” của Quang Dũng với nét chữ nắn nót như học trò, bây giờ vẫn được lưu giữ tại nhà ông Quang Vĩnh ở Thái Nguyên. Ông Vĩnh kể, khi mới ra đời, bài thơ này gây được tiếng vang rất lớn bởi khi đó đại đa số chiến sĩ trong đoàn quân Tây tiến là trí thức, học sinh, sinh viên Hà Nội. Nét hào hoa trong từng câu chữ nói về đoàn quân “xanh màu lá” khiến cho không ít thiếu nữ Hà thành có người yêu là lính Tây tiến phải nhỏ lệ.

Chính vì vậy, cho đến mãi tận sau này, có lẽ đây là bài thơ duy nhất của người lính Cộng sản miền Bắc được ngay cả những người lính Ngụy miền Nam cũng yêu thích chép lại trong sổ tay. Nhiều nhà xuất bản dưới thời Việt Nam cộng hòa cũng cho in hàng loạt. Mỗi lần in xong, không biết bằng cách nào, nhưng họ đều gửi sách biếu đến tận nơi. Tuy nhiên, để tránh những sự hiểu lầm đáng tiếc, Quang Dũng đều mang đốt sạch.

Sau này khi đất nước hoàn toàn thống nhất, bỗng một hôm gia đình Quang Dũng nhận được một lá thư gửi đến từ địa chỉ không quen biết. Nội dung trong thư là của một tỷ phú đất Sài Gòn. Giống hệt như trong chuyện “Chữ người tử tù” của nhà văn Nguyễn Tuân, ông tỷ phú nọ ngỏ lời mời Quang Dũng vào Sài Gòn chơi một chuyến để ông ta được ngồi cùng đàm đạo.

Trong thư, ông tỷ phú tha thiết đài thọ toàn bộ mọi phí tổn chuyến đi, những mong Quang Dũng vào đó và tự tay chép tặng ông ta bài thơ “Tây tiến” để ông ta treo tại bàn làm việc. Lẽ ra với một người hâm mộ thơ của mình như thế thì có lẽ cha tôi cũng đã “chẳng phụ một tấm lòng tri kỷ trong thiên hạ” – ông Vĩnh kể.

Thế nhưng, cuối lá thư, ông tỷ phú nọ lại “dại dột” tái bút: Nếu được ông chiếu cố vào viết tặng cho bài thơ “Tây tiến” thì thù lao chí ít cũng phải là một chiếc Honda. Ngoài ra nếu ông có thể tặng thêm cho vài câu thơ khác thì số quà tặng còn giá trị hơn rất nhiều. Đọc xong lá thư – ông Vĩnh kể tiếp – cha tôi chỉ cười nhạt mà rằng: “Văn chương chữ nghĩa rẻ rúng đến thế ư?”. Rồi có lẽ câu chuyện gạ “bán thơ” ấy ông cũng quên khuấy mất trong mớ ngẫu sự thường ngày.

Bằng chứng là sau năm 75 khi có dịp vào Sài Gòn thăm chị gái, ông cũng chỉ ở rịt trong nhà chẳng đi ra đến ngoài. Duy nhất có một lần bà chị gái ép Quang Dũng đi chơi phố thì ông nhất định đòi phải cải trang ăn mặc thành một tay chơi đất Sài Gòn rồi mới chịu bước chân ra đường. ấy thế mà vẫn có người nhận ra.

Lần đó Quang Dũng đứng chọn sách trong một tiệm bán văn hóa phẩm, một người đàn ông trung niên đi ra bỗng vỗ vai ông hỏi: “Ông có phải Quang Dũng – tác giả “Tây tiến” không, tôi nhìn giống bức ảnh trong cuốn sách ở nhà lắm”. Ông Vĩnh kể, không hiểu cha tôi học tiếng Nam khi nào mà ông trả lời ngay: “Ông nhầm rồi, tôi ở Bạc Liêu mới zô”.

Ông Vĩnh nói vui: Có lẽ cha tôi lại sợ có người gạ “bán thơ” nên mới không dám nhận như thế. GS Hoàng Như Mai cũng kể lại: “Sau giải phóng, tôi vào Sài Gòn giảng bài, có đọc sách báo cũ. Về Hà Nội, tôi bô bô với Quang Dũng: Này ông, ở Sài Gòn họ ca tụng ông ghê lắm. Quang Dũng vội xua tay: “Thôi xin ông, ông đừng nói với ai nhé”.

Mặc dù “giàu thơ” như thế, nhưng Quang Dũng lại có cuộc sống hết sức đạm bạc. Bà Thạch, vợ nhà thơ nhớ lại, năm 1960 có một phái đoàn văn hóa nước ngoài sang Việt Nam cứ nhất định đòi đến thăm tư gia tác giả Tây tiến. Căn nhà bé tí tẹo của ông ở 91 Lý Thường Kiệt lại… hơi tồi tàn nên cơ quan “tạm” chuyển ông tới 51 Trần Hưng Đạo nay là trụ sở Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam cho đẹp mặt.

Có lẽ muốn giữ thể diện cho những nhà thơ Việt Nam trong con mắt khách nước ngoài nên Quang Dũng đành chấp nhận màn kịch ấy. Ngay cả đến khi bị liệt, Quang Dũng cũng dạo chơi phố phường Hà Nội lần cuối trên chiếc xe lăn do bạn bè nước ngoài gửi tặng. Cho đến tận những ngày cuối đời nhà thơ hào hoa này vẫn chọn cho mình một cuộc sống thanh bạch.

(Theo ANTĐ)

Bí mật đường hầm Đông Berlin

preloadImages(‘/images/original/2008/01/200801290046242_duongham.jpg’);

Vào một ngày mưa tầm tã cách đây 52 năm, bí mật về một trong những âm mưu tình báo lớn nhất thời Chiến tranh lạnh đã bị phanh phui. Liên Xô và CHDC Đức tuyên bố đã phát hiện một đường hầm dài 400m mà CIA đã đào vào Đông Berlin. Đường hầm này là một bộ phận của chiến dịch nghe trộm quy mô lớn.

Mặc dù chiến dịch nghe trộm táo bạo này đổ vỡ song tin tức về việc phát hiện ra nó đã tạo ra sự vui sướng tràn ngập trụ sở của Cơ quan tình báo trung ương Mỹ (CIA). Các lãnh đạo của CIA vô cùng hài lòng về phản ứng của thế giới: lòng ngưỡng mộ đối với sự táo bạo và khả năng kỹ thuật của CIA, cũng như niềm tin rằng CIA đã lừa được Liên Xô.

’’Phản ứng của thế giới rất có lợi về mặt tăng cường uy tín của Mỹ’’, CIA viết về dự án đường hầm Berlin trong một cuốn lịch sử nội bộ. Dự án này đã được giải mật năm ngoái và gần đây đã được công bố rộng rãi. Các đồng minh phương Tây hồ hởi trước dấu hiệu rằng Mỹ – lúc đó được coi là một lính mới trong hoạt động gián điệp – có khả năng thực hiện một chiến dịch táo bạo chống lại Liên Xô – cường quốc từ lâu được coi là bậc thầy trong những vấn đề như vậy.

Về mặt kỹ thuật máy móc và mưu mẹo, đường hầm Berlin của CIA là một thành công phi thường. Được triển khai vào tháng 8/1954 bên dưới một nhà kho tạm thời ở khu vực Rudow của Tây Berlin, đường hầm được đào một cách bí mật trong thời gian 18 tháng. Nó xâm nhập vào khu vực do Liên Xô kiểm soát 300m.

Với sự trợ giúp của tình báo Anh, những người đào hầm đã mắc rẽ vào ba dây cáp lớn. Những dây cáp này truyền phần lớn thông tin điện thoại và điện báo giữa Đông Berlin và các nơi khác, trong đó có cả Moscow. Trong gần 1 năm, các tình báo Anh và Mỹ đã ghi lại các thông tin liên lạc ra vào Đông Berlin, sử dụng hơn 25 tấn băng từ. Những cuốn băng này đã được hàng trăm phiên dịch và máy xử lý ở Washington và London sàng lọc.

Tuy nhiên, hơn nửa thập kỷ sau, các học giả và các điệp viên vẫn còn tranh cãi về việc bên nào thực sự lừa được bên nào. Tranh cãi này cho thấy nhiều khi sự tiết lộ thông tin cho công chúng quan trọng hơn nhiều trong hoạt động tình báo so với giá trị của những bí mật đánh cắp được. ’’Đây là một phần của trò chơi lớn hơn giữa Mỹ và Liên Xô trong Chiến tranh lạnh. Hoạt động tình báo giống như một cuộc thi mà trong đó họ thể hiện với nhau ai giỏi chơi trò này hơn. Họ vui mừng khi cho công chúng thấy rằng họ là những người chuyên nghiệp trong cuộc chiến tình báo bí mật này’’, sử gia Bernd Stoever thuộc Đại học Potsdam, người nghiên cứu cuộc xung đột này cho biết.

Sau khi phát hiện đường hầm vào ngày 22/4/1956, Liên Xô và CHDC Đức ngay lập tức mở một chiến dịch tuyên truyền về chiến thắng này. Họ đã tổ chức một cuộc họp báo – một việc mà quân đội Liên Xô gần như chưa bao giờ làm – và mời các phóng viên từ hai bên biên giới tới tham dự. Trong những tuần tiếp theo, khi Washington vẫn im lặng, nhà chức trách Đức đã cho 50.000 người Đông Berlin đi qua đường hầm để tận mắt chứng kiến ’’trò bẩn thỉu’’ của kẻ thù –  ngôn từ mà một quan chức Đông Đức đã sử dụng.

Tuy nhiên, tại trụ sở CIA, các quan chức Mỹ lại hoan hỉ khi biết Liên Xô và CHDC Đức đã tuyên truyền về vụ việc này. Họ cho rằng việc này làm cho Liên Xô bẽ mặt vì đã bị Mỹ nghe trộm các thông tin cấp cao.

Sự thực phức tạp hơn rất nhiều. Điều mà CIA không hề hay biết là Xô Viết đã biết về đường hầm này từ lâu. Trước khi đường hầm được động thổ, CIA đã phạm sai lầm khi thảo luận kế hoạch đó với George Blake, một quan chức tình báo cấp cao của Anh. Năm 1961, Blake bị lật tẩy là điệp viên của KGB. Ông ta đã tiết lộ nhận dạng của hàng trăm tình báo Anh cũng như các kế hoạch về dự án đường hầm Berlin.

Theo một cuốn sách do Sergei A. Kondrashev – quan chức KGB giám sát Blake – viết, các quan chức tình báo Liên Xô lo ngại về nguy cơ bị lộ nguồn tin. Họ lo ngại rằng Mỹ có thể nghi ngờ nếu họ ’’phát hiện’’ ra đường hầm này quá nhanh. Do vậy, họ để cho hoạt động nghe trộm này tiếp tục. Mưa lớn mà gây hư hỏng một trong các đường cáp vào mùa xuân năm 1956 đã tạo cho họ cớ để kiểm tra các đường dây liên lạc và vờ như là họ tình cờ phát hiện ra đường hầm này.

Do vậy, chính CIA đã bị lừa. Trong khi đó, theo một tài liệu nội bộ tháng 8/1956, CIA đã kết luận rằng việc Liên Xô phát hiện ra kế hoạch nghe trộm trên ’’hoàn toàn là tình cờ và không phải là kết quả của việc Liên Xô có nội gián trong các cơ quan tình báo Anh hoặc Mỹ’’.

Việc phát hiện Blake là điệp viên hai mang 5 năm sau đó đã buộc những người ngoài cuộc đánh giá lại dự án này. Liệu dự án có thu được bất kỳ bí mật thực sự nào hay không? Hay Liên Xô đã truyền các thông tin giả qua đường cáp? Trong cuốn sách, Kondrashev nói rằng các thông tin được truyền qua đường cáp là thật và Liên Xô không dám chuyển các thông tin sai lệch do lo ngại Blake bị phát hiện. Tuy nhiên, các học giả vẫn không chắc chắn.

’’Sẽ khó biết chắc được cho tới khi chúng ta có nhiều thông tin hơn từ phía Liên Xô’’, Christian F. Ostermann, Giám đốc Dự án Lịch sử Chiến tranh lạnh thuộc Trung tâm các học giả quốc tế Woodrow Wilson, Washington, nói.

Trong khi đó, theo dòng thời gian, đường hầm Berlin tiếp tục xuất lộ. Trong năm 2005, một nhóm công nhân xây dựng của Đức đã phát hiện ra một phần của đường hầm bằng bê tông cốt thép này khi đang xây dựng một con đường cao tốc tới sân bay Schoenefeld của Berlin. Đoạn đường hầm được khai quật và được đưa tới Bảo tàng đồng minh ở Tây Berlin trước kia, nơi một triển lãm lớn được tổ chức một năm sau đó nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày phát hiện ra đường hầm.

Blake, người thoát khỏi nhà tù của Anh năm 1966 và chạy sang Moscow, vẫn sống song chưa bao giờ tiết lộ ông đã nói gì với KGB. Vào tháng 11, nhân dịp sinh nhật lần thứ 85, ông đã được Tổng thống Putin trao Huân chương Hữu nghị, phần thưởng cao quý nhất có thể được trao cho một công dân nước ngoài.

(Theo Ha Noi moi)

2008, thế giới có gì mới?

– 2008 – cột mốc khởi đầu nhiều hoạt động mới lạ trên thế giới. Tuổi Trẻ số đầu năm 2008 xin tổng hợp giới thiệu một số trong nhiều sự kiện mới lạ đó đây.

* Năm 2008: Năm khoai tây Liên Hiệp Quốc (LHQ) đã quyết định chọn năm 2008 là Năm khoai tây! Theo Tổ chức Nông lương LHQ (FAO), quyết định này nhằm nâng cao nhận thức của nhân loại về tầm quan trọng của củ khoai tây trong cuộc sống hằng ngày, xem loại củ này như một nguồn lương thực quan trọng góp phần bảo đảm nền an ninh lương thực và giảm đói nghèo trên thế giới.

Theo ước tính của Tổ chức Dân số thế giới (UNFPA), trong hai thập niên tới dân số thế giới sẽ tăng khoảng 100 triệu người/năm (95% ở các nước đang phát triển), cho nên rủi ro về lương thực là rất cao. Trong khi đó, khoai tây rất giàu vitamin C và kali có thể góp phần giảm thiểu tình trạng suy dinh dưỡng và cứu đói cho con người.

Các hoạt động về Năm khoai tây được tổ chức vào năm 2008 như: diễn đàn khoa học về khoai tây với tình trạng đói nghèo vào tháng 3-2008 tại Cuzco, Peru; hội nghị nghiên cứu về thương mại khoai tây (Europatat) ở Thụy Sĩ vào tháng 5-2008…

* Bình đẳng giới tiếp tục được nhiều quốc gia theo đuổi, nhưng phụ nữ Oslo (Na Uy) có thể đón ngày 1-1-2008 hưng phấn hơn phụ nữ các nơi khác: đây là thời hạn chót để các công ty của Na Uy phải có ít nhất 40% số phụ nữ trong ban điều hành, hoặc phải đóng cửa!

 

* Năm 2008 sẽ là năm không thoải mái cho những người nghiện thuốc khi tại nhiều nơi trên thế giới, lệnh cấm hút thuốc có hiệu lực. Như tại Paris (Pháp), lệnh cấm hút thuốc tại các quán rượu, nhà hàng, khách sạn và câu lạc bộ đêm tại Pháp có hiệu lực từ 1-1-2008, hoặc Lithuania cũng sẽ cấm hút thuốc lá nơi công cộng.

Riêng tại Nhật, từ tháng 7-2008, các máy bán thuốc lá tự động sẽ chỉ bán thuốc cho người trưởng thành, tức những ai trên 20 tuổi. Để mua thuốc lá, khách hàng phải “trình” cho máy giấy tùy thân. Loại thẻ tùy thân từ tính này sẽ được cấp miễn phí cho các cá nhân trên 20 tuổi tại các trung tâm dịch vụ đặc biệt. Thật ra, hiện nay Nhật cũng cấm bán thuốc lá cho trẻ vị thành niên, tuy nhiên bất cứ ai cũng có thể mua thuốc lá thoải mái tại các máy bán thuốc tự động. Sang năm 2008, chuyện rõ ràng sẽ khác!.

* Thủ đô văn hóa châu Âu? Sẽ là Liverpool. Nhiều thành phố trên thế giới đang nỗ lực vươn tới những danh hiệu toàn cầu khác. Từ 1-1-2008, Thượng Hải – thủ đô tài chính của Trung Quốc – sẽ khai trương một kênh truyền hình tiếng Anh và tiếng Nhật, như một phần trong nỗ lực trở thành “thủ đô văn hóa và quốc tế hóa”.

* Năm 2008 có thêm 20 ngày đối với những ai sử dụng một quyển lịch bàn đặc biệt ở Mỹ! Đây là quyển lịch dành tặng… Tổng thống Bush, người đang đếm những ngày còn lại của nhiệm kỳ tổng thống thứ hai đầy thăng trầm (nhiều “trầm” hơn “thăng”)! Trong quyển lịch này, ngày cuối cùng của năm 2008 không phải là 31-12-2008, mà kéo dài tới tận 20-1-2009: đó là ngày chấm dứt nhiệm kỳ của Tổng thống Mỹ Bush.

Nhưng chắc Tổng thống Bush không thích sử dụng quyển lịch vì bìa lịch in hàng chữ: “Tổng thống kém cỏi” bên cạnh chân dung ông. Không chỉ thế, những người bán lịch còn nhắc khách hàng rằng dù họ có lật nhanh lịch cách mấy cũng không rút ngắn được nhiệm kỳ của ông Bush. Quyển lịch trị giá 1,5 USD, được bán như quà tặng năm mới ở New York!

(Theo Tuoi Tre)

%d bloggers like this: