Phố cổ bên sông Hoài

Nét cổ kính phố cổ Hội An.
ND – Về Hội An vào những ngày này, không khỏi ngạc nhiên trước bao đổi thay đã mang lại cho phố cổ một hình vóc mới, nhưng vẫn nguyên vẹn giá trị văn hóa cổ truyền. Hội An vẫn giữ được vẻ đẹp riêng và cổ kính, những ngôi nhà lợp ngói âm dương, những chiếc lồng đèn xinh xắn, các làng nghề truyền thống, điệu bài chòi, hò khoan,… mang đặc trưng xứ Quảng. Ðặc biệt hơn, sau 10 năm trở thành di sản văn hóa thế giới, Hội An đang phát triển trở thành thành phố sinh thái – văn hóa – du lịch.

 

Phố cổ Hội An giờ không chỉ là niềm tự hào của người dân Quảng Nam, mà còn là niềm tự hào chung của người dân đất Việt. Có thể nói, Hội An là một “bảo tàng sống” giữa bộn bề và đa sắc của dòng chảy văn hóa hôm nay. Phố cổ Hội An như bức tranh mà ở đó, không gian và thời gian đều lắng lại trên mỗi nếp nhà. Thả bộ trên phố Trần Phú, Lê Lợi, Bạch Ðằng, Nguyễn Thái Học, tôi như lạc vào một thế giới khác, biệt lập hẳn với sự sôi động, ồn ã bên ngoài. Ðứng ở chùa Cầu, nhìn sông Hoài lặng yên trong lòng phố,  tôi hình  dung về  một thời xưa cũ với sự nhộn nhịp của những thương thuyền hằng ngày cập bến. Hội An có ảnh hưởng rất lớn trong sự giao thoa văn hóa vùng – miền, hun đúc nên Hội An không thể lẫn với bất cứ đâu.
Người tôi tìm gặp đầu tiên khi đến Hội An là bà Khoáng. Ở tuổi 84, bà như một nhân chứng thời gian trong lòng Hội An, chứng kiến biết bao đổi thay, bao biến cố đối với mỗi di tích, danh thắng ở nơi này. Bà thuộc và biết rõ từng ngóc ngách Hội An như lòng bàn tay. Quê gốc làng gốm Thanh Hà, những năm tháng tuổi thơ của bà Khoáng gắn với đầy vơi sông Hoài, phố Hội. Du khách về phố Cổ, không thuộc đường nào, không biết các địa danh nào có thể tham quan, nếu hỏi bà, bà đều chỉ rõ tường tận. Hơn 10 năm nay, khi phố cổ Hội An trở thành di sản văn hóa thế giới, du khách thập phương về đây đông hơn, bà đã chọn những con thổi, hay còn gọi là con tò he, để bày bán làm đồ lưu niệm. Thấy tôi cứ tẩn mẩn nhìn ngắm những con thổi trên sạp hàng của mình, bà cười nhân hậu: Những con thổi này bà lấy trên quê, bộ gồm 12 con giáp; con cá, voi đều được các nghệ nhân làm bằng tay. Bà chọn bán những con thổi vì bà yêu mến quê mình. Ðối với bà, mỗi ngày được ngồi ở góc phố này, nhìn ngắm quê hương phố Hội, sông Hoài đang hàng ngày hàng giờ đổi thay, bà như lại có thêm niềm vui cuộc sống. Bà mong những con thổi kỷ niệm này theo du khách đi mọi nơi, mang thanh âm trong trẻo của nó hòa vào với cuộc sống.
Theo hướng dẫn của bà Khoáng, tôi đến làng gốm Thanh Hà. Làng gốm nằm cạnh sông Thu Bồn thuộc xã Cẩm Hà, với bãi bồi mượt mát phù sa, cách thành phố Hội An 3 km về hướng tây. Ngày xưa, đây là một vùng đất thịnh vượng, nổi tiếng với các mặt hàng gốm, đất nung, sản phẩm từ đây xuôi ngược theo sông nước đến khắp các vùng, trở thành một địa phương sầm uất, là cửa ngõ giao thương của các thuyền buôn từ thế kỷ 16, 17. Làng nghề hàng trăm năm tuổi này đã đóng một vai trò quan trọng trong quá trình phát triển Hội An ngày xưa và hôm nay. Nghệ nhân làng gốm là những người thiết kế, cung cấp gạch, ngói âm dương trong việc xây dựng các ngôi nhà cổ. Với đôi bàn tay khéo léo và điêu luyện, từ làng gốm Thanh Hà, những sản phẩm gốm làm hoàn toàn bằng tay như lọ hoa, bình trà, chén bát, ấm nước, chum, hũ, vại đến những con vật trâu, bò, gà… đã ra đời.
Theo những cụ cao niên trong làng, việc khôi phục làng gốm Thanh Hà cũng đồng nghĩa với việc phục chế lại nghề gốm cổ. Chỉ có nghệ nhân làng gốm mới là những người có thể cung cấp gạch xây, ngói lợp đúng tiêu chuẩn, đúng quy cách, chất lượng, nhằm phục vụ công tác trùng tu, bảo tồn phố cổ. Trải qua nhiều biến đổi của thời gian, các nghệ nhân vẫn luôn giữ bí quyết gia truyền của nghề gốm. Tôi đã gặp những công nhân đang làm việc, tìm hiểu thì mới biết về những vất vả khó khăn trong nghề. Và để khẳng định thương hiệu của làng gốm, hiện tại đang rất cần sự đồng tâm. Hiện ở đây có năm gia đình làm gốm thủ công, còn lại sản xuất gốm theo khuôn, mẫu và buôn bán nhỏ. Những nghệ nhân của làng như ông Nguyễn Lành, ông Lê Trạm, ông Lê Khiêm…, là người có kinh nghiệm trong nghề. Gặp ông Lê Khiêm giữa trưa, khi ông vừa ở lò gốm về nhà và đang nặn con thổi, nghe tôi hỏi về nghề gốm, ông tâm sự: Làng gốm hiện nay đã được đầu tư khôi phục, nhưng vẫn gặp nhiều khó khăn. Nhiều nghệ nhân của làng đã lớn tuổi, mà lớp trẻ thì không mấy mặn mà với nghề, vì gốm là nghề kỳ công, phải lao tâm khổ luyện mới làm nên sản phẩm ưng ý nhưng thu nhập lại thấp. Con em trong làng theo nghề gốm rất ít, đa số các cháu đi tìm việc làm ở địa phương khác. Theo tôi, muốn khôi phục làng nghề cần có sự quan tâm giúp đỡ của chính quyền địa phương, sự hỗ trợ về kinh phí học nghề, vừa học vừa làm, đầu ra cho sản phẩm…
Ở Hội An, còn có một sản phẩm độc đáo nữa, đó là đèn lồng. Ðây là nét đẹp về đêm của Hội An, đặc biệt là mỗi độ trăng rằm. Ðèn lồng tôn thêm sự lung linh, huyền ảo của đêm phố cổ. Năm 1996, khi Hội An tổ chức Ðêm phố cổ đầu tiên, đó cũng là thời điểm các nghệ nhân trong thị xã đầu tư nhiều công sức cho nghề đèn lồng. Từ đó đến nay, đèn lồng Hội An được biết đến như một sản phẩm nghệ thuật độc đáo, không chỉ có mặt trong Lễ hội đèn lồng ở Hội An, mà còn có mặt trong hội chợ làng nghề ở Hà Nội, ở Festival Huế… Ðèn lồng Hội An là sản phẩm truyền thống độc đáo được sản xuất và bán ngay tại chỗ. Người làm đèn rất cần mẫn, cầu kỳ, chú trọng từng chi tiết, từ làm khung đến hoàn tất sản phẩm. Khung xương đèn lồng được làm bằng tre, nhôm, sắt, gỗ quý, được phủ ngoài bằng lụa hoa, lụa tơ tằm các mầu, hoặc bằng giấy. Hiện nay ở Hội An có 43 cơ sở sản xuất đèn lồng, với khoảng 200 lao động chính và 150 nghìn đèn lồng các loại hàng năm, doanh thu từ đèn lồng năm 2008 là 3,5 tỷ đồng. Các cơ sở sản xuất đèn lồng như Huỳnh Văn Ba, Trần Hà, Ngọc Thu…, đã có sản phẩm xuất khẩu sang các nước Mỹ, Pháp, Anh, Australia, Ðức, Bra-xin… Nghệ nhân Huỳnh Văn Ba là người đầu tiên có cơ sở sản xuất đèn lồng, cũng là người đầu tiên sáng tạo ra loại đèn lồng xếp. Là nghệ nhân lớn tuổi nhất ở đây, cơ sở của ông đã giúp giải quyết việc làm cho hơn 20 lao động.
Năm 2008, thị xã Hội An trở thành thành phố trực thuộc tỉnh và từ đó, Hội An tiếp tục được chú trọng đầu tư, tôn tạo và giữ gìn các di tích lịch sử cách mạng, các làng nghề truyền thống và các danh thắng. Việc khôi phục các làng nghề truyền thống, như xây dựng lại một số lò gốm với công nghệ mới, đưa làng gốm vào các tour du lịch làng nghề để giới thiệu với du khách bốn phương đã được triển khai. Nhiều đề án về xây dựng văn hóa, như. “Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng Hội An – Thị xã văn hóa giai đoạn 2006-2010”; “Xây dựng Minh An – phường trung tâm phát triển toàn diện bền vững về kinh tế – văn hóa của đô thị du lịch Hội An giai đoạn 2006-2010 và những năm tiếp theo” đã trở thành trọng điểm của kế hoạch phát triển.
Trong công tác bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa của Hội An, việc tạo điều kiện cho làng nghề truyền thống hoạt động hiệu quả đã được đưa vào chương trình phát triển kinh tế – xã hội trọng điểm của địa phương. Ðó là cơ sở để năm 2008, tổng giá trị tăng thêm theo giá cố định toàn TP Hội An đạt 1.070,403 tỷ đồng (bằng 97,62% so kế hoạch). Tốc độ tăng GDP đạt 9,84%, thu nhập GDP bình quân đầu người/năm đạt 17.260.000 đồng. Hiện ở Hội An còn 975 hộ nghèo (chiếm 5,08%) và 748 hộ cận nghèo (chiếm 3,9%) so với số hộ dân. Sự đồng lòng trong lãnh đạo, chỉ đạo của chính quyền thành phố, đặc biệt trong giải quyết, tạo công ăn việc làm đang là một trong những vấn đề được đặt lên hàng đầu.
Hiện nay, hầu hết các di sản của phố cổ đều nằm trên địa bàn phường Minh An, là “chiếc nôi” để văn hóa Hội An tiếp biến với những nền văn hóa khác trên thế giới thông qua giao thương buôn bán, đồng thời chịu ảnh hưởng lớn của các phong trào yêu nước cuối thế kỷ 19. Chính vì đặc trưng là một đô thị – thương cảng nên ở Hội An có lối sống thị thành, vừa có lối sống của cộng đồng làng xã. Cả hai đặc điểm này đan xen, phát triển tạo nên nét thú vị riêng, như việc tồn tại các đình làng, nhà thờ họ tộc và các thiết chế tôn giáo, tín ngưỡng cùng với những lễ nghi mang tính làng xã.
Bên những làng quê bình dị dọc sông Thu Bồn, trong mỗi nếp nhà, trên mỗi gương mặt đều nhận thấy sự gần gũi thân thương, sự cần mẫn, sáng tạo và chịu thương, chịu khó của người xứ Quảng đã tô thêm vẻ đẹp cho Hội An. Vượt qua các khó khăn về kinh tế và khí hậu khắc nghiệt, Hội An ngày ngày vẫn được gìn giữ và phát triển bằng những việc làm cụ thể, thiết thực. Những gì thuộc về văn hóa cổ Hội An thì cần phải bảo tồn và giữ gìn – đó cũng là điều trăn trở của mọi người dân đang sống trong thành phố bên sông Hoài, nơi chúng ta vẫn trìu mến gọi là “phố Hội”.
NGUYỄN THỊ ANH ĐÀO (Theo nhandan.com.vn)
%d bloggers like this: