Phố cổ bên sông Hoài

Nét cổ kính phố cổ Hội An.
ND – Về Hội An vào những ngày này, không khỏi ngạc nhiên trước bao đổi thay đã mang lại cho phố cổ một hình vóc mới, nhưng vẫn nguyên vẹn giá trị văn hóa cổ truyền. Hội An vẫn giữ được vẻ đẹp riêng và cổ kính, những ngôi nhà lợp ngói âm dương, những chiếc lồng đèn xinh xắn, các làng nghề truyền thống, điệu bài chòi, hò khoan,… mang đặc trưng xứ Quảng. Ðặc biệt hơn, sau 10 năm trở thành di sản văn hóa thế giới, Hội An đang phát triển trở thành thành phố sinh thái – văn hóa – du lịch.
Đọc tiếp
Advertisements

Nhà cổ Diệp Đồng Nguyên- kho tàng cổ vật ở Hội An

Tiền cổ được trục vớt từ đáy biển Cù Lao Tràm

Nhà cổ Diệp Đồng Nguyên- nơi được nhiều du khách, nhà nghiên cứu trong và ngoài nước coi như một bảo tàng cổ vật vô giá- luôn mở rộng cửa cho du khách đến xem. Hiện vật cổ bày la liệt mà không có vẻ được bảo vệ, nhưng cũng chưa bao giờ xảy ra chuyện mất mát

Theo gia phả hiện đang lưu giữ tại nhà Diệp Đồng Nguyên, ông Diệp Ngộ Xuân là người họ Diệp đầu tiên từ Gia Ứng- Quảng Đông (Trung Hoa) sang Hội An vào thời Thanh Hàm Phong (1856). Với nghề thuốc bắc cha truyền con nối, ông tổ đã lập nên cơ ngơi đầu tiên cho dòng họ ở đường Trần Phú (Hội An- Quảng Nam) với tiệm thuốc bắc mang tên Diệp Đồng Xuân. Về sau, con cái của ông đã gìn giữ cơ nghiệp và phát triển thêm một tiệm nữa tại số nhà 80 Nguyễn Thái Học. Từ tiệm thuốc bắc chuyên buôn bán các loại cao đơn hoàn tán mang tên Nhị Thiên Đường, tiệm dần mở rộng thành đại lý cho hãng dầu lửa Shell, buôn bán lụa là gấm vóc, sách vở cho học sinh, sách quốc ngữ cho bà con Hội An… Đến nay họ Diệp sống ở đây 5 thế hệ. Ngoài buôn bán, người họ Diệp còn có thú sưu tầm đồ cổ và lưu lại cho con cháu đời sau.  Một bảo tàng đặc biệt Tôi gặp chị Trần khi đến thăm nhà cổ Diệp Đồng Nguyên. Chị sinh ra ở Pháp, cha mẹ là người Việt. Tôi gọi chị là chị Trần vì không thể phát âm từ tiếng Pháp rất khó là tên của chị. Con gái chị có tên Việt là Mai Loan. Năm nay là năm thứ hai liên tiếp gia đình chị Trần đi du lịch ở Hội An, và một nơi chị không thể không ghé thăm lại là nhà cổ Diệp Đồng Nguyên- số 80 Nguyễn Thái Học.

Ông Diệp Gia Tùng (tên thường gọi là Sùng), chắt ngoại đời thứ 5 của cụ Diệp Ngộ

Chị Trần đang hỏi ông Sùng về thư tịch cổ
Chị Trần đang hỏi ông Sùng (Tùng) về thư tịch cổ

Xuân, đón khách với vẻ đủng đỉnh không ra vồn vã cũng không thờ ơ. Đi lại, xem xét một hồi mới biết, thái độ của chủ nhân thật là thoải mái, sẵn sàng cho du khách xem cặn kẽ, sờ mó vào hiện vật, ngắm nghía những đồ cổ vô giá ở mọi góc cạnh mà không hề e ngại. Điều thật lạ, dường như ông còn nhớ được khách, bởi lúc chị Trần vừa ghé vào, khi chúng tôi chưa kịp bắt chuyện mà ông Sùng đã bảo: Chị này đã tới đây rồi.

Ngôi nhà này được xây dựng vào cuối thế kỷ 19. Tầng trệt có những tủ kính áp dọc theo tưởng nhà, trong đó chủ yếu bày những chén bát, đồ sứ. Đồ gốm sứ rất đa dạng về chủng loại và niên đại, do những người đời trước của họ Diệp sưu tầm từ Việt Nam và Trung Quốc.

Mấy bức ảnh người Hội An xưa trong các trang phục cổ, bày trang trọng ở chính diện. Nơi đây lưu giữ cả kho ảnh tư liệu về Hội An được chụp chủ yếu từ những năm 1920 đến 1950-1960. 

Phía trong là nơi trưng bày bộ sưu tập tiền cổ. Có tương đối đầy đủ các loại tiền Việt Nam- Trung Quốc qua nhiều triều đại phong kiến, và một số tiền Nhật Bản. Đông tiền Việt Nam cổ nhất là Thái Bình Hưng Bảo (thời nhà Đinh). Đặc biệt, trong bộ sưu tập có đồng Hàm Nghi Thông Bảo mà giới sưu tập cổ vật cho là quý hiếm. Bộ sưu tập này đã được sắp xếp và phân loại thành 2 bảng “Lịch đại cổ tiền” Việt Nam và Trung Quốc theo biên niên lịch sử để người xem dễ hiểu, dễ thấy.

Ông Sùng (Tùng) chỉ cho khách xem bộ sưu tp tiền cổ đã được phân loại
Ông Sùng bên bộ sưu tập tiền cổ đã được phân loại

Tiền thưởng
Đồng tiền thưởng dưới Triều Nguyễn

Bước qua cầu thang gỗ nhỏ lên tầng 2. Có lẽ những gì quý giá hơn cả được cất giữ ở đây. Những chiếc ché mang đi sứ của thời Khang Hy, bình tì bà và bát gốm Chu Đậu thế kỷ XII được vớt tại Cù lao Chàm, bình hoa da cóc thời nhà Thanh thế kỷ XVIII, đồ men cổ Trung Hoa đời Minh… Cổ nhất có lẽ là chiếc bình bằng đất nung gốm Sa Huỳnh niên đại thế kỷ I trước công nguyên.

Ở tầng 2 của ngôi nhà có cả bộ tủ áo cổ, bàn làm việc của Bảo Đại khi nhà vua về phủ Điện Bàn (15/12/1933), chiếc bàn phấn trang điểm của Nam Phương Hoàng Hậu, ảnh vua Bảo Đại cùng Hoàng hậu chụp với các quan khách địa phương, trong đó có thân sinh của chủ nhân ngôi nhà hiện nay.

Bộ sưu tập ấn chương nằm khiêm tốn trong chiếc tủ kính ở gian trong gác 2, được thu thập hơn 100 năm qua với các loại ấn của quan lại địa phương như tri huyện, chánh tổng, lý trưởng, ấn bạc của quan tri phủ…; cùng nhiều ấn triện của các nhà buôn tại Hội An, những hiện vật chứng minh sự phồn vinh về thương mại của thương cảng Hội An xưa.

Bức trướng ở Phủ Điện Bàn xưa
Bức trướng ở Phủ Điện Bàn xưa

Vòng đeo tay bằng đá mã não, trâm cài góc, gương soi… của những mỹ nữ thời xưa được trưng bày trong một tủ kính nhỏ giữa gian phòng. Trên tường treo nhiều tranh thư pháp, tranh thủy mặc của nghệ thuật hội họa Trung Hoa. Ông Sùng cho biết, những bức tranh quý như “Phước tinh cao chiếu”, “Bách điểu triều phượng”… được vẽ từ thời Minh Thanh; “Thập nhị kim thoa”, “Tam đa”, “Bồ đào”… vẽ trong thời Dân quốc. Các đời họ Diệp sưu tầm, lưu giữ được nhiều bức thư pháp quý giá với chữ viết của các nhà thư pháp trứ danh như Đông Kỳ Xương thời Minh, Vương Vân Ngũ- nhà biên soạn từ điển của Trung Quốc và nhiều bức chữ với bút tích của các nhân vật nổi tiếng như Tôn Khoa (con trai của Tôn Trung Sơn), Lâm Trạch thần, Uông Tinh Vệ…

Tủ sách cổ sưu tập sách vở xưa, tư liệu Hán Nôm mà chủ yếu là các loại sắc phong, sổ sách buôn bán, địa bạ, khế ước nhà cửa của các gia đình người Hoa qua các đời Minh Mạng, Thiệu Trị,Tự Đúc, Thành Thái, Duy Tân. Bên cạnh đó còn nhiều tài liệu viết về Hội An thời cận, hiện đại của các tác giả: Diệp Ngộ Xuân với những ghi chép, thơ vịnh về Hội An; nhà Việt Nam học Trần Kinh Hòa với “Phố người Đường và nền thương nghiệp của nó tại Hội An trong các thế kỷ XVII, XVIII”, “Mấy điều nhận xét về Hương minh xã và các cổ tích tại Hội An”, Diệp Truyền Hoa với “Hội An xưa và nay”… là những tư liệu quý để nghiên cứu về Hội An, Quảng Nam.

Ông Sùng cho khách xem các sắc phong thời phong kiến
Ông Sùng cho khách xem các sắc phong thời phong kiến. Cô bé Mai Loan (giữa ânh) có vẻ rất lạ lẫm !

Mai Loan được mẹ- chị Trần giới thiệu từng đồ vật cổ với những câu chuyện về đồ vật đó theo lời giới thiệu của ông Sùng. Gương mặt cô bé 10 tuổi sáng lên vì những cảm xúc thú vị, khám phá. Có thể thấy rõ, cuộc đi thăm ngôi nhà cổ đã làm cho chuyến về thăm Việt Nam- quê mẹ của cô bé trở nên nhiều kỷ niệm đáng nhớ hơn.
Câu chuyện của chủ nhân
Ông Sùng cho hay nhiều món cổ vật thuộc bộ sưu tập gia tộc hiện lưu giữ đã được giới thiệu đầy đủ, chi tiết trên các catalogue của nhiều nước hoặc có món hầu như chỉ còn độc nhất trong giới sưu tầm cổ vật trên thế giới. Ông Sùng và người anh trai của mình- ông Vĩnh Tân đã dành cả đời để giữ gìn, tìm hiểu những món đồ cổ. Đến nay đối với họ, để phát hiện niên đại của những món đồ cổ chẳng có gì khó khăn. Trận lụt lớn nhất ở Hội An năm 1964 đã làm rất nhiều nhà ở đô thị cổ bị hư hại, nhưng nhà Diệp Đồng Nguyên chỉ bị ảnh hưởng chút ít vì cách bảo quản đồ đạc rất kỹ càng. Trước kia, những cổ vật này được cất trong kho. Khi Hôi An có nhiều khách du lịch, các ông mới đem ra sắp xếp, bày vào tủ kính để ai thích thì ghé xem.Ông Sùng có thể say sưa kể tỷ mỷ cho chúng tôi  lai lịch của mỗi món cổ vật. Từ những chiếc bát sứ, bình vôi trục vớt được dưới đáy Cù Lao Chàm, tới từng ấn triện, sắc phong, những cuốn thư tịch cổ… Mỗi cổ vật đều có một lịch sử, một câu chuyện đầy ấn tượng. Đã có rất nhiều đoàn nghiên cứu, khảo sát trong và ngoài nước đến đây tiến hành khảo cứu và đã thừa nhận giá trị của hiện vật trong kho tàng này. Ông Dùng cho biết, nhà Diệp Đồng Nguyên chơi đồ cổ, chỉ mua vào chứ không bán ra. Nhiều khách du lịch tới đây đã ngỏ ý muốn mua đồ cổ với giá cao, nhưng ông không bán. Ông bảo ông theo nghiệp này vì say mê nhưng cũng là nghĩa vụ gia truyền. Ước tính, gần một nửa cổ vật là do ông Sùng bổ sung vào. Ông thường để dành tiền các cháu ở nước ngoài gửi về cho để mua đồ cổ. Căn nhà 80 Nguyễn Thái Học trông thật đơn sơ, có cảm giác ai cũng có thể đột nhập vào, nhưng nhiều năm nay chưa hề xảy ra chuyện mất mát. Mỗi năm một vài lần, ông Sùng cho người lau cửa kính và các đồ trưng bày. Hàng ngày, nhà cổ Diệp Đồng Nguyên lại mở rộng cửa đón những du khách ghé chân vào: không phải mua vé, không có người canh giữ, bạn có thể xem xét và chạm vào hiện vật… Cũng là một nét đẹp làm nên sự hấp dẫn của Hội An./.

Hoa Trang Hưng

(Theo VOV)

Hương rừng đất Quảng

Đến với miền Tây Quảng Nam, du khách không chỉ cảm nhận được những sắc thái văn hóa thấm đẫm hơi thở của núi rừng, gặp gỡ những con người thân thiện, chân chất như suối ngàn, cây cỏ mà còn được hòa mình với thiên nhiên bao la, hùng vĩ của đại ngàn Trường Sơn.

Một vùng huyền thoại

Nói đến du lịch Quảng Nam, người ta thường nghĩ ngay đến hai di sản văn hóa thế giới là Khu đền tháp Mỹ Sơn và Phố cổ Hội An. Tuy nhiên, đâu chỉ có Mỹ Sơn và Hội An, Quảng Nam còn giữ chân du khách bằng nhiều sản phẩm du lịch khác. Ngày hội văn hóa – du lịch các dân tộc miền núi Quảng Nam vừa diễn ra trên không gian rộng lớn từ huyện Đông Giang đến Phước Sơn gắn với những di tích lịch sử dọc đường Hồ Chí Minh huyền thoại đã đem đến cho du khách cơ hội khám phá nét độc đáo của đất và người xứ Quảng.

Cây cầu treo bắc qua con suối đầu làng Bohong, xã Sông Kôn, huyện miền núi Đông Giang tỉnh Quảng Nam trong ngày hội được che mát bằng một tấm thổ cẩm dài hơn 20 mét đưa khách vào tận làng. Những cô gái Cơtu trong bộ trang phục thổ cẩm truyền thống tươi cười vẫy chào du khách đến với Lễ hội mừng lúa mới được tổ chức trước nhà Gươl của làng. Tiếng cồng, tiếng chiêng hòa trong tiếng hú của những chàng trai Cơtu vang vọng núi rừng, bay qua trăm con suối, bay qua trăm ngọn đồi gọi bạn về dự hội. Trong ngất ngây cồng chiêng, trong ngất ngây rượu cần, những chàng trai, cô gái Cơtu say sưa múa Tung tung Da dá. Những cánh tay con trai mạnh mẽ cầm nỏ, cầm gươm giương cao lên trời biểu hiện sức mạnh, ý chí và khát vọng chinh phục thiên nhiên, chống lại thiên tai địch họa, gìn giữ buôn làng; những bước chân con gái dịu dàng uyển chuyển, những bàn tay như búp măng nâng cao ngang vai biểu hiện tình yêu chung thủy của người con gái Cơtu, niềm mong ước đất trời mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, mọi người mạnh khỏe. Dân làng từ trẻ đến già say sưa múa hát quanh cây Nêu đã buộc một con trâu đực chuẩn bị làm lễ cúng thần linh. Đã tám mươi tuổi, bao nhiêu lần đánh cồng đánh chiêng trong Lễ mừng lúa mới, nhưng chưa bao giờ cụ Y Công – dân tộc Cơ tu ở xã Ba, huyện Đông Giang vui như hôm nay. Trong trang phục thổ cẩm truyền thống, đầu đội mũ lông công, cụ dẫn đầu đoàn trai làng múa cồng chiêng trước nhà Gươl, trên tay cầm chiếc tù và, thỉnh thoảng lại cất lên mấy tiếng hú dài vang động cả núi rừng. Cụ phấn khởi nói: “Nhà nước quan tâm tổ chức lễ hội, đồng bào Cơtu mừng lắm. Người già chúng tôi sẽ bảo ban con cháu cố gắng giữ gìn những phong tục tốt, những lễ hội văn hóa tốt, bỏ cái xấu , cái lạc hậu”.

Ý tưởng mở rộng không gian du lịch, tạo thêm nhiều sản phẩm mới được ngành du lịch Quảng Nam ấp ủ từ lâu. Việc tái hiện những lễ hội dân gian truyền thống, những bài hát, điệu múa đặc trưng, đặc biệt là tạo không gian văn hóa cho lễ hội cồng chiêng các dân tộc Cơ Tu, Giẻ Triêng, M’nông, Kor… được các ngành chức năng, chính quyền địa phương và người dân đồng lòng hưởng ứng. Lần đầu tiên, những bản làng hẻo lánh, những thác nước hùng vĩ giữa đại ngàn Trường Sơn như bừng tỉnh dậy trong tiếng cồng, tiếng chiêng. Du khách thích thú với điệu múa Tung tung Da dá. Ngồi xem con trai, con gái Cơ tu múa hát mà cái đầu cũng muốn lắc lư, cái chân cũng muốn nhún nhảy theo nhịp cồng chiêng. Càng thú vị hơn khi được ngồi trong nhà Gươl ăn cơm lam, thịt nướng, vít cần uống một hơi dài rượu cần trong chóe, uống rượu tà vạt trong bát, nghe men rượu ngọt lừ trong câu hát giao duyên: “Em ơi chân em đẹp lắm, trắng như ngà voi trên rừng, nhanh như con sóc trên cây. Giọng em hay như chim hót trong rừng, trong như suối róc rách, miệng cười tươi hơn Đlơm. Nếu thương nhau xin đón anh về”. “Anh ơi! Anh là trai làng bên. Muốn em về làm vợ thì phải cõng em qua suối qua sông. Sông sâu đường xa dốc lắm. Cưới nhau về nhớ trao vòng vàng vòng bạc cho em”.

Làm sao để cuốn hút du khách

Là người làm lữ hành nhiều năm, đi khắp mọi miền đất nước, chị Lê Nguyễn Mai Hoa, Phó phòng điều hành thị trường 4, Công ty Du lịch Việt Nam tại Hà Nội nhận xét: “Chúng tôi rất xúc động trước tinh thần mến khách của người dân Quảng Nam. Đó là điều kiện rất thuận lợi để phát triển du lịch. Miền Tây Quảng Nam đang hấp dẫn du khách ở chiều sâu văn hóa. Sắp tới, chúng tôi sẽ tổ chức tour Đà Nẵng – Kon Tum – Pleiku cho khách cựu chiến binh Mỹ, chúng tôi sẽ đưa khách tham quan một số điểm dọc đường Hồ Chí Minh”.

Đó cũng là điều mà ngành du lịch Quảng Nam đang nỗ lực hướng đến nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh về du lịch sinh thái, rừng biển của địa phương làm phong phú sản phẩm, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của du khách. Tuy nhiên, theo anh Đỗ Phủ, Trưởng phòng điều hành hướng dẫn Công ty Lữ hành Hà Nội, Quảng Nam cần đầu tư nhiều hơn về cơ sở hạ tầng, không nên dàn trải mà phải có trọng điểm. Lễ hội của đồng bào Cơtu cần tinh gọn hơn. Nên tổ chức loại hình lưu trú tại làng để du khách tìm hiểu cuộc sống sinh hoạt của đồng bào.

Không chỉ những đền tháp Mỹ Sơn trầm mặc thâm nghiêm, phố cổ Hội An lung linh huyền ảo trong muôn ánh đèn lồng của Đêm phố cổ với những lễ hội dân gian sông nước, Quảng Nam đang gọi mời du khách bằng những sản phẩm du lịch đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc. Đến với miền Tây Quảng Nam, du khách không chỉ cảm nhận được những sắc thái văn hóa thấm đẫm hơi thở của núi rừng, gặp gỡ những con người thân thiện, chân chất như suối ngàn, cây cỏ mà còn được hòa mình với thiên nhiên bao la, hùng vĩ của đại ngàn Trường Sơn, được ngập mình trong làn nước mát của thác Grăng, suối Dăkgà, chinh phục độ cao của Đồi E nơi cổng trời Phước Sơn, đứng trên đỉnh Lò Xo nhìn về thung lũng vàng Khâm Đức thoắt ẩn thoắt hiện trong sương khói Ngọc Linh, mái nhà của Trường Sơn hay phiêu lưu trên những vách đá của Khu bảo tồn thiên nhiên sông Thanh. Về với Quảng Nam, du khách như mê say với Đất, với Người, với “ Hương rừng đất Quảng”.

(Theo VOV)

Gỏi mít non đất Quảng

Có duyên lấy đặng chồng nguồn
Ngồi trên ngọn gió có buồn cũng vui
Nhón chân kêu bớ họ nguồn
Mít non gởi xuống, cá chuồn gởi lên

Bài ca dao quen thuộc trên trong kho tàng ca dao xứ Quảng không chỉ bày tỏ niềm hãnh diện, sung sướng của những cô gái miền xuôi được lấy chồng và ở trên miền ngược mà còn nhắn gởi trông đợi của họ đến với người miền xuôi về sự đối lưu, trao đổi sản phẩm, mít non, cá chuồn giữa hai vùng miền cách trở. Đọc đến hình ảnh “mít non gởi xuống” trong tôi có một chút băn khoăn và tự đặt câu hỏi: Tại sao là “mít non gởi xuống” mà không phải là mít già, mít chín gởi xuống nhỉ? Cho chắc ăn, ngọn ngành, tôi không ngần ngại đem câu hỏi ấy tìm đến mấy bác nông dân ở cạnh nhà, nhờ giải đáp. Nghe xong câu hỏi của tôi, các bác đều cười và giải thích: “Mít non gởi xuống là hoàn toàn hợp lý cháu à, vì ở dưới xuôi không đủ mít non, phải cần thêm số lượng lớn mít non trên miền ngược, nhằm thoả mãn nhu cầu ăn mít luộc, gỏi mít non của đông đảo người dân ở xuôi đấy, kể cả người miền ngược cũng thích”.

Đúng là, loài cây mít được người dân Kinh, Thượng ở các huyện ở miền núi, như Ba Tơ, Trà Bồng, Sơn Hà, Minh Long… (Quảng Ngãi) trồng nhiều đến vô kể, vườn nào cũng thấy dày đặc, chi chít những cây mít, quả mít hiện hữu. Vùng đất sỏi cằn này không những thích hợp cho cây mít tuy trái nhỏ nhưng lại ngon, thơm, ngọt, quyến rũ hơn mít dưới xuôi nhiều lần. Hèn gì, mà trên những xe hàng xuôi từ các huyện miền núi về đồng bằng xứ Quảng lúc nào cũng đầy ắp những bao mít non. Góc bán mít, nhất là mít non, ở từng chợ, chợ quê, chợ tỉnh, bao giờ cũng tấp nập, nhộn nhịp người mua. Do càng ngày càng đông đúc người ưa chuộng ăn mít non nên các chợ, mấy năm gần đây xuất hiện thêm người bán mít non luộc từng miếng, gỏi mít non, phục vụ tối đa nhu cầu của khách hàng, đặc biệt là những người ít có thì giờ cho bếp núc…

Đương nhiên, mít luộc, gỏi mít ngoài chợ làm sao ngon, đầy đủ hương vị bằng do chính tay của các mẹ, các chị xứ Quảng làm. Mua khoảng nửa trái mít non về là cả nhà, bốn, năm người ăn mệt nghỉ. Chịu khó gọt sạch lớp vỏ, gai bên ngoài, xắt thành nhiều miếng nhỏ, cỡ chừng nửa bàn tay, ngâm, rửa trong nước cho hết chất nhựa. Khi nồi nước trên bếp sôi sùng sục, đồng loạt thả mít vào, khoảng mươi phút sau, mít chín vừa (đừng để mít chín nhừ sẽ mất ngon). Là món luộc, nhanh ăn, chỉ cần xắt ra từng miếng nhỏ, vừa ăn, chuẩn bị một bát nước mắm, nếu gặp phải bát nước mắm cái, mắm tôm thì càng tuyệt (vì mít non rất hợp “gu” thứ này) cùng với các gia vị quen thuộc như ớt sim, tỏi giã nhỏ, đảm bảo khó có người nào dám chê món dân dã, đơn giản này mà không ngon, lạ miệng.

Đúng bài nhất, phải là món gỏi mít non. So với món luộc trên thì món gỏi có phần công phu hơn chút ít. Luộc xong, băm cho thật nhỏ, vụn, đợi chảo dầu phụng sôi mạnh, đổ vào đảo nhanh, rồi bắc xuống. Rang lạc thơm giòn, giã giập, thổi sạch lớp vỏ lụa bao bên ngoài, chẳng quên chút mắm, tiêu, ớt, vài chục cọng lá rau húng cho vào, trộn tới khi đều. Dùng bánh tráng mỏng hay bánh tráng nướng chín vàng ươm mà cuốn, mà xúc gỏi mít non sẵn trên bát đĩa, thì có gì hơn. Gỏi mít ngon, được mọi người thích ăn thường xuyên mọi lúc, vì bản thân nó vừa thơm ngọt, bùi vừa có nhiều chất bổ dưỡng, giàu vitamn các loại, không hề gây ngộ độc. Món gỏi mít thơm ngon này không chỉ góp mặt trong vô số bữa ăn thường nhật của từng gia đình mà còn được “phô diễn” rất nhiều trong giỗ chạp, liên hoan bạn bè, người thân. Thêm vài xị rượu đế nữa, cái ngon đến… ngất ngây. Có rất nhiều sản vật của làng quê này được chế biến thành gỏi, như gỏi đu đủ, gỏi xoài, gỏi cá cơm, song hiếm có loại gỏi nào “qua mặt” được gỏi mít non.

Mít non, một món ngon, bổ, rẻ, dễ làm, ai mà không ghiền, không khoái cơ chứ. Sản vật ấy lại in đậm trong ca dao, trong tâm thức mọi người “Mít mon gởi xuống, cá chuồn gởi lên” thì đâu có vừa. Rất đáng ngợi ca, tự hào và cần giới thiệu rộng rãi cho các bạn nơi khác biết, rồi một ngày nào đó tới đất Quảng tìm món ăn này, thưởng thức cho biết./.

ST.

Đi dọc Trường Giang Xanh

Tỉnh Quảng Nam có một con sông kỳ lạ: chạy song song với bờ biển – phía đông các huyện Duy Xuyên, Thăng Bình, Tam Kỳ và nối liền hai cửa biển Kỳ Hà (huyện cực nam Núi Thành) với Cửa Đại, Hội An; dài hơn 70 km. Đó là sông Trường Giang.
Đọc tiếp

Quán bên đường

Cụm từ “quán bên đường” đã nói lên một cách chính xác về vị trí, thân phận của những điểm buôn bán theo kiểu này. Quán không tọa lạc tại phố, chợ, không phải tiệm hay cửa hàng và kiến trúc hầu hết là tạm bợ bằng mọi thứ vật liệu nhẹ. Hầu hết quán bên đường thường xa các khu dân cư đông đúc mà chỉ chọn một chỗ nào đó tại một bên của con đường có nhiều người đi lại, có thế đắc địa cho việc buôn bán.

Thời trước, kể từ làng xã, mỗi nơi chỉ có một vài quán. Đây là những quán dựa vào khách trong làng là chính. Có nơi quán được dựng một bên dốc bến đò dọc, đò ngang; có quán lập tại đầu cầu hay đầu một ngã ba. Nếu không phải vừa là nhà ở vừa là quán thì những quán này dựng rất đơn sơ với cột tre, vách tre, lợp tranh và diện tích khá nhỏ. Thông thường, quán có một bàn nhỏ cho khách ăn uống, một sạp tre bày các chai lọ, hũ, thẩu đựng sản phẩm, một vài cây sào gác ngang gần cửa quán để treo các sản phẩm linh tinh khác.

Tại làng xã, những quán bên đường thường được người địa phương gọi tên bằng cách lắp món hàng chính của quán với tên chủ quán. Chẳng hạn: quán hàng xén bà Năm, quán mì Bốn Thơm, quán cháo lòng Bảy Mập… Khách của quán đa số là người cùng xóm cùng làng với nhau. Khách lỡ kẹt tiền mặt được chủ quán sẵn lòng cho ghi sổ để đó trả sau. Khách nào “hết khả năng chi trả” để nợ lâu quá, cuốn sổ này bị gọi vui là “sổ đoạn trường”. Các bà nội trợ rất gắn bó với quán hàng xén. Trong nhà, trong bếp lỡ hết món gì đó liền sai trẻ chạy ra quán. Đường đậu mắm muối dầu chè tiêu ớt… đủ cả, có ngay, và quán chấp nhận bán lẻ đến đơn vị thấp nhất.

Sáng sớm, khách đến quán điểm tâm tô mì, uống bát nước chè nóng trước khi làm việc. Xế chiều, gặp ngày thong thả, cùng vài “chiến hữu” ra quán “làm” tô cháo, dĩa lòng luộc, sương sương vài ly nhỏ rượu gạo, tán gẫu chuyện trên trời dưới đất… cũng thấy cuộc đời đáng yêu, đáng sống biết bao!

Xa hơn, dọc theo các huyện lộ, tỉnh lộ có những quán bên đường được  khách bộ hành thuộc nằm lòng, hễ đi ngang là phải ghé. Quán đường huyện, đường tỉnh khác quán làng xã ở chỗ những quán này có tính cố định về vị trí và chuyên nghiệp về buôn bán hơn. Loại quán này không có sổ nợ, dứt khoát tiền trao cháo múc. Chẳng biết các chủ quán có ngầm phân chia lãnh địa hay không mà trên cùng một con đường, các quán cách nhau đủ cho khách bộ hành đi tới quán là đã mỏi chân, khát nước, đói bụng. Đang với tâm trạng như vậy mà thấy làn khói bếp lan trên mái quán, mùi thơm thức ăn tỏa ra thì khách bộ hành cầm lòng không đậu, phải dừng chân. Cứ vào quán cái đã, không ăn thì uống hoặc cứ ngồi nghỉ khan một lúc cũng chả sao.

Thời “hoàng kim” của quán bên đường là chín năm kháng chiến chống Pháp tại vùng tự do rộng lớn của ta. Hoàn cảnh chiến tranh không có xe cộ nên giao thông trên bộ toàn là… đi bộ. Nhiều địa phương, ngoài quốc lộ, tỉnh lộ, huyện lộ đã có từ xưa, lúc này còn thêm những con đường đi tắt xuyên qua các làng mạc thôn quê. Quán bên đường mọc lên dọc theo những con đường như thế. Quán và khách đều rất cần nhau.

Thời ấy, tại vùng tự do tỉnh Quảng Nam, hầu hết chủ nhân các quán bên đường mới mở là đồng bào tại các đô thị, thị trấn như Đà Nẵng, Hội An, Vĩnh Điện tản cư. Họ đem tới nét văn minh ẩm thực của phố thị làm cho món ăn, thức uống của những quán bên đường thời kháng chiến được phong phú về “mặt hàng”, ngon lành về chất lượng, đẹp về hình thức. Tuy chẳng thể có sơn hào hải vị sang trọng nhưng nhờ các bà các chị khéo tay nên mọi thứ đều làm vừa lòng khách. Ngoài các món ăn quen thuộc như cơm, mì Quảng, bún, bánh bèo, bánh tráng…, các quán mới còn có cháo lòng thả, bánh khoái, bún bò kiểu Huế…, ấn tượng nhất là các loại chè chính bản của Đà Nẵng, Hội An.

Khách bộ hành đi ngả Bà Rén theo quốc lộ 1A lên tỉnh hay vào Tam Kỳ, Bến Ván, đến tận Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên thường dừng lại Trảng Chuổi nghỉ ngơi. Các quán tại đây chỉ bán độc một thức ăn là bún sản xuất tại chỗ dùng với cá biển. Bún và cá đều rất tươi, khách xơi tại quán nào cũng vừa ý cả.

Nếu khách đi từ ngả Trung Phước vào các nơi xa nói trên, họ đi tắt trên những hương lộ nối nhau mà trước kia không mấy ai biết. Khi qua khỏi đèo Le, đến chợ Đông Phú rẽ phải, lội qua sông Rù Rì (Ly Ly) giữa huyện Quế Sơn và Thăng Bình, cứ thế mà đi mãi. Dọc con đường này có những quán nhỏ, món ăn thức uống đơn giản. Khi đến giờ ăn uống thật sự, khách sẽ dừng lại các nơi có những địa danh thân quen như Minh Huy, Đo Đo, Quán Rường, Cẩm Khê… Quán bên đường tại mấy nơi này không thiếu những món ngon, lại hợp túi tiền mọi người trong thời kháng chiến. Những khách bộ hành thường đi lại con đường này hồi ấy, đến bây giờ vẫn còn nhắc một quán bên đường tại Hà Châu huyện Thăng Bình. Quán này bán toàn các loại chè rất ngon, cô chủ quán tên L. xinh đẹp, vui tính. Chẳng biết các “cụ” nhớ chè hay nhớ chủ quán cố nhân…

Theo Báo Quảng Nam

Hút ốc

Tại bãi cát Hương An, dọc quốc lộ 1A hoặc vùng ven Tam Kỳ đang nở rộ các “quán ốc” với tấm biển hiệu nguệch ngoạc dòng chữ viết bằng phấn trắng sơ sài. Vậy mà chiều nào, nam thanh nữ tú cũng tập trung đông, xe honda, xe đạp đậu dãy dài. Tất cả chỉ vì quá ghiền món ốc hút!

Ốc có nhiều nhưng dân làng nhậu chỉ khoái hai loại: ốc bươu và ốc đá. Có thể ví von rằng ốc bươu là món “quý tộc”, ốc đá mới là món “đại trà”. Bởi ốc bươu lớn con hơn nên ít số lượng (mỗi đĩa chỉ mươi con) song giá lại đắt vì chế biến cầu kỳ, trong khi ốc đá cỡ đầu ngón út, giá rẻ, được tính bằng lon. Đã thế, món ốc bươu đòi hỏi phải có thời gian ngâm qua đêm với nước vo gạo để con mồi nhả hết chất nhờn rồi mới đem chặt đít, um dầu với nhiều gia vị. Ngược lại, ốc đá chỉ cần bấm đít (bằng kìm) là có thể bỏ vào nối nấu chín, trước khi ăn, chủ quán mới rưới thêm dầu mỡ đã qua pha chế với đủ thứ ớt, tỏi, mắm, hành…

Ngoài đời thường ví von “dễ như hút ốc”, nhưng đừng tưởng bở. Nhón tay bốc một con đưa lên miệng (món ăn này, đặc biệt phải dùng tay nên quán nào cũng có thau nước, xà phòng cùng khăn lau sẵn để khách “tẩy trần” trước khi vào cuộc), người sành điệu chưa vội hút ngay mà phải thổi nhẹ phía sau vỏ ốc để thịt rời khỏi vỏ rồi mới kê miệng hút một hơi dài. Có thể hiểu được cảm giác của thực khách khi tận hưởng chất béo ngọt, cay xè thấm vào đót họng, tan dần, với mùi vị dầu mỡ thơm lừng. Cứ mỗi cú hút, khách nhậu thường kèm cọng rau húng, lát chuối chát, khế chua, nhai bánh tráng rôm rốp và khà một hơi rượu gạo cay nồng.

Có nghịch lý không khi ăn ốc ai nấy nước mắt, nước mũi chảy ròng bởi mùi xay xé họng (một yếu tố gây nhiều khoái khẩu) vậy mà lắm kẻ vẫn ghiền, nhất là các cô gái mới lớn hay nữ sinh tan học buổi chiều thường xúm xít? Vì thế mới có một chuyện vui xảy ra nơi quán ốc: một vị khách sang trọng gốc Nam Bộ lái xe ngang qua, thấy người xe lố nhố bèn ghé thử. Khi gọi xong món, quán dọn ra dĩa ốc và chai rượu gạo. Thậm chí phải hỏi “cách ăn”, nhưng dùng xong vị khách này gật gù: “Ngộ quá ta, xài được!”. 

Những người thường xuyên xài món ốc hút thì vẫn khó lòng dứt bỏ, bởi ngoài sức hấp dẫn của món ăn ngon còn có yếu tố… giá rẻ. Và dù vẫn có chút băn khoăn về khoản xử lý vỏ ốc của đa số hàng quán ven sông, nhưng xem ra món ốc hút đã quá quen thuộc. Đến độ nhiều người ghiền ốc hút đã không ngần ngại khi khoe với khách phương xa rằng, món đặc sản quê hương thu hút số đông người ở đây ngoài tô mì Quảng thì có thể kể đến… ốc hút. Trên thực tế, chẳng riêng gì Quảng Nam mà rất nhiều nơi đang “lên hương” món ốc hút, đặc biệt là Huế với khẩu vị cay ngọt đặc biệt. Nhưng với người Quảng, ốc xứ Quảng, xem ra những buổi chiều ngồi bên quán ốc hút để “đưa cay” bằng những con ốc be bé từ lâu đã là một thói quen khó lòng dứt bỏ…

LAM HÀ (Theo baoquangnam.com.vn)

%d bloggers like this: