Giai thoại về Chuột

Để tìm hiểu loài Chuột như thế nào? Chúng ta có thể quả quyết rằng: Loài Chuột có lông nhiều dày rậm, lỗ tai nhỏ, mỏ và đuôi dài. Chuột lại là loài gặm nhấm, nhưng còn  sanh sản rất nhanh và nhiều,  cho nên chúng nó cắn phá khủng khiếp, không chừa nơi nào, ở  trong nhà thì đào hang, khoét vách, cắn phá gạo nếp, thức ăn thức uống khi quên đậy, kể cả giấy má .v.v. rồi làm ổ đẻ liên tục và ở ngoài đồng thì cắn phá hột giống, mùa màng cũng như các nông phẩm của nông dân như : lúa, bắp, khoai .v.v. Vì thế họ hàng nhà Chuột đi đến đâu, thì mọi người điều sợ sự phá hoại của Chuột, nếu ghe tàu nào bị Chuột đến ở, thì cũng khốn khổ không ích.

Ngoài ra,  loài Chuột  cũng  tạo  nên  bịnh  dịch hạch làm cho sự chết chốc lên đến hàng trăm ngàn người tại nhiều nước trên thế giới, ví như tại Athène (Hy Lạp) vào năm 429 trước Công Nguyên, hoặc các nước khác như Ai Cập, Thổ Nhỉ Kỳ, Ý Đại Lợi, Pháp.v.v. cũng bị sát hại vì bịnh dịch này, người ta đã thống kê chỉ 7 năm, kể từ năm 1346 đến năm 1353 số người bị chết trên thế giới như sau : Âu Châu gần 25 triệu người và Á Châu cũng gần 23 triệu người và được người đời xem như là một thiên tai.

Vì Chuột thường đem tai họa đến cho loài người như vậy, nên người thường kiếm đủ cách để loại trừ Chuột ví như : Thuốc Chuột, đặt bẫy Chuột, dậm cù Chuột .v.v. 

Đặc biệt, khi bắt được Chuột con sống, người ta may lỗ đít nó lại, rồi thả nó trong nhà, nó bị bí ỉa cho nên nó lập tức cắn đuổi đồng bọn nó chạy khỏi nhà và cắn chết luôn mấy con Chuột con, sau đó nó cũng chết theo luôn.

Tuy vậy Chuột là con vật ranh mảnh khôn ngoan, khó lòng bị tiêu diệt hết. Người ta thường kể, Chuột muốn tha một cái trứng gà to về ổ mà không bị bể, Chuột đã biết để một con nằm ngửa ôm trứng, miệng ngâm đuôi con khác để con này kéo về ổ… (Bđd Viên Giác 91, trang 29 do Cụ Phan Hưng Nhơn viết)

Do vậy, Trời sanh Chuột thì phải sanh Mèo hay Rắn để trừ diệt Chuột,  nếu không loài người khó sống nỗi với Chuột, bởi  tai họa  về Chuột  tạo  nên. Tuy  nhiên,  loài Chuột cũng có giúp ích cho nhân loại. Bởi vì, bắt loài Chuột để làm cuộc thí nghiệm y khoa, ngõ hầu tìm được các loại thuốc trị bịnh cứu sống chúng ta và riêng thịt Chuột là một đặc sản thực phẩm đáng kể nữa, nếu ai đã từng về : Long Xuyên, Châu Đốc, Cần-Thơ, Ô-Môn, Rạch Giá, Sa Đéc, Sóc Trăng …thuộc miền Hậu Giang, vào mùa bắt Chuột, thì thấy Chuột được bày bán trắng phiếu, vì đã thui và lột da xong, người mua đem về chế biến 7 món ăn về Chuột như chơi, nào là: Chuột nướng, Chuột chiên tươi hay muối với sả ớt, Chuột xào hành, Chuột bầm xào Lá Cách hay Lá Lốt hoặc Chuột bầm rồi ướp gia vị để làm nhưn bánh Xèo v.v.

Nhân nói về món ăn bằng thịt Chuột, xin trích dẫn một trong những món ăn liên quan đến con Chuột, trong dịp Bà Từ Hi Thái Hậu, đời nhà Thanh  bên Trung Hoa, khoản đãi phái đoàn sứ thần thuộc các  quốc  gia Tây Phương, nhân dịp mừng Xuân Canh Tý 1874. Tiệc được chuẩn bị 11 tháng 6 ngày trước, có 1750 người phục vụ, tốn kém 98 triệu hoa viên thời bấy giờ tương đương 374 ngàn lượng vàng ròng, gồm 400 thực khách và kéo dài suốt 7 ngày đêm bắt đầu giờ giao thừa Tết  nguyên đán năm Canh Tý.

Đó là món Sâm Thử  tức là con Chuột được nuôi bằng sâm.

Trong quyển Món Ăn Lạ Miền Nam, tác giả Vũ Bằng tường thuật món sâm thử như sau : Chuột mới đẻ đem nuôi trong lồng kính cho ăn toàn sâm thượng hảo hạng và uống nước suối, đến khi đẻ ra con thì lấy những con đó nuôi riêng cũng theo cách thức đó để sanh ra một lớp Chuột mới, nhưng lớp Chuột mới nầy vẫn chưa dùng được. Cứ nuôi như thế đến đời thứ ba, Chuột mới thực là “thập toàn đại bổ”, người ta mới lấy những con Chuột bao tử của thế hệ mới này ra ăn và ăn như thế thực là ăn tất cả cái tinh hoa, bén nhậy, khôn ngoan của giống Chuột cộng với tất cả tính chất cải lão hoàn đồng, cải tử  hoàn sanh, tráng dương bổ thận của cây sâm vốn được y lý Đông Phương đặt lên hàng đầu thần dược từ cổ chí kim trong trời đất. …

Nguyên đại sứ Tây Ban Nha thuật lại rằng, đến món ăn đặc biệt ấy thì có một ông quan đứng lên giới thiệu trước rồi quân hầu bưng lên bàn tiệc cho mỗi quan khách một cái dĩa con bằng ngọc trong đó có một con Chuột bao tử chưa mở mắt, đỏ hỏn hảy còn cựa quậy, nghĩa là một con Chuột bao tử sống. Bao nhiêu quan khách thấy thế chết lặng đi, bởi vì nếu phải theo giao tế mà ăn cái món này thì … nhất định phải …trả lại hết những món gì đã ăn trước đó. Mọi người nhìn nhau? Bà Từ Hi Thái Hậu cầm nĩa xúc con Chuột bao tử ăn để cho mọi người bắt chước ăn theo. Con Chuột kêu chi chí, người tinh mắt thấy một tia máu vọt ra … Hoàng Đế Trung Hoa thông thả vừa nhai vừa suy nghĩ như thể muốn kéo dài cái thú ăn tuyệt diệu ra để cho cái thú ấy thấm nhuần trí óc và cơ thể. Và Ngài nói: “Mời Chư Vị”. Nhưng không một vị nào đụng đũa, cứ ngồi đơ ra mà nhìn. Bà Từ Hi Thái Hậu bèn cười mà nói đùa : ” Tôi tiếc không thấm nhuần được cái văn minh Âu Mỹ của các Ngài, nhưng riêng vế cái ăn thì tôi thấy quả các Ngài chậm tiến, không biết cái gì là ngon là bổ. Về món đó, các Ngài có lẽ còn phải học nhiều của người Á Đông”. Không một ông nào trả lời, vì có lẽ các ông đại diện ấy đến lúc ấy đều bán tín bán nghi không biết ăn Chuột bao tử như thế là văn minh hay dã man. Tuy nhiên, người ta có thể chắc chắn là chưa có một nước nào trên thế giới lại có một món ăn tinh vi, quí báu, cầu kỳ đến thế bao giờ… Chính  ông đại sứ Tây Ban Nha phải nhắm mắt lại thử ăn, nhưng ông thú thực rằng vừa cho vào miệng cắn một cái thấy Chuột con kêu chi chí, ông ta vội vàng chạy ra ngoài nhả ra và một tháng sau còn sợ. Sau này, đem câu chuyện đó nói với mấy vị đông y sĩ, ông ta biết rằng người Âu Mỹ không biết ăn cái món ấy, quả là “châm biếm” và mấy ông già còn cho biết thêm rằng Chuột thường nuôi bằng sâm bổ hết sức rồi, nhưng nếu tìm được giống Chuột Chù mà nuôi bằng sâm theo cách thức nói trên thì còn bổ gấp trăm lần nữa … (tài liệu này do Mọt Sách  sưu tầm và tường thuật).

Trong loài Chuột, không những có các tên ở vừa kể ở trên kia, mà còn có các tên khác, xin trích dẫn như sau :

Chuột Lắt : Đây là loài Chuột nhỏ con bằng ngón tay cái hoặc lớn hơn một chút, nó thường sống ở trong nhà, rất lanh lợi, sanh sản rất nhiều và thường cắn phá khủng khiếp. 

Trong dân gian, thấy đứa con nào hoặc người nào có thân hình nhỏ con thường phá phách gia đình hay xóm làng, thì cũng được gọi là Chuột Lắt.

Chuột Xạ: cũng thường gọi Chuột Chù, cũng có thân hình nhỏ con, mỏ dài và nhọn, đuôi rất ngắn. Đặc biệt,  nó có mùi hôi xạ khó ngửi cho nên có cái tên là Chuột Xạ và Mèo cũng sợ mùi xạ hương này, nên cũng lánh xa. Chuột Xạ không cắn phá và lanh lợi hơn Chuột Lắc, nó thường ở hộc tủ, gầm giường hay trong hang và đi sát đất, rất chậm lụt, thường kêu chít chít như Chuột rúc vậy. Trong dân gian thường quan niệm điềm may mắn hay phát tài là:

Thứ nhứt đơm đóm vào nhà,

Thứ nhì Chuột rúc,

Thứ ba hoa đèn.

Chuột Dừa : là loại Chuột thường sanh sống ở trên cây dừa, ít xuống đất, nó chỉ  cắn phá  cây dừa  và  ăn cơm dừa, uống nước dừa mà sống, thân hình nó lớn bằng cườm tay. Vì thế, nó mới có tên là Chuột Dừa, loại Chuột này thường thấy những tỉnh trồng nhiều dừa như ở Bến Tre, thịt nó thơm ngon đặc biệt, bởi vì nó ăn uống bằng trái dừa rất tinh khiết.

Ngoài ra, những loại Chuột hoang đã đơn cử ở trên, chúng ta còn thấy loại Chuột người nuôi để làm cảnh. Đó là:

Chuột Bạch: là loại Chuột nhỏ con, có lông màu trắng và thường thấy ở bên Tàu, cho nên nó có tên là Chuột Tàu. Người nuôi Chuột Bạch hay Chuột Tàu này phải tốn tiền mua Chuột, mua lồng Chuột đặc biệt, dể nó biểu diển và tốn thức ăn chớ không phải như các loại Chuột hoang khỏi săn sóc gì cả. Nhưng bù lại, người nuôi Chuột này được xem những trò biểu diển của nó và làm cảnh cho vui cửa vui nhà.

(Theo khoahoc.net)

Advertisements

Những câu chuyện phía sau bài thơ “Tây tiến”

(ANTĐ) – Hầu hết những thế hệ học trò ngày nay đều đã từng được học qua bài thơ “Tây tiến” của nhà thơ Quang Dũng. Một bài thơ mặc dù được làm từ những năm 40 thể kỷ trước nhưng đến nay vẫn được đánh giá là có sức lôi cuốn cả một thế hệ thanh niên, vừa bi sảng, vừa hào hoa.

Những câu chuyện xung quanh “Tây tiến” mà tôi viết lại dưới đây là những câu chuyện lần đầu tiên được kể bởi chính nhạc sĩ Quang Vĩnh – con trai cả của cố nhà thơ Quang Dũng hiện đang sống tại Thái Nguyên.

Ông Quang Vĩnh trong một lần trà dư tửu hậu đã băn khoăn, rằng ông muốn viết lại những câu chuyện về cha mình, nhưng ngại miệng tiếng: người nhà khen nhau. Thế nên, tôi xin tình nguyện làm anh thư lại chép những câu chuyện ấy hầu bạn đọc.

“Tây tiến” đã “bị” sửa như thế nào

Quang Dũng tham gia đoàn quân Tây tiến năm 1947 và hành quân lên Tây Bắc với nhiệm vụ phối hợp với bộ đội nước bạn để bảo vệ vùng biên giới Việt Lào. Đến tận bây giờ người ta vẫn còn nhớ như in những câu thơ oai hùng về đoàn quân Tây tiến:

Tây tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng Kiều thơm

Ban đầu, bài thơ được Quang Dũng lấy tựa đề là “Nhớ Tây tiến”. Nhưng có một điều là Quang Dũng sáng tác rất nhiều thơ, tuy vậy không hiểu tại sao ông lại có nhiều trăn trở nhất đối với riêng bài thơ này.

Ông Quang Vĩnh kể lại, về sau ông còn nhớ có nhiều lần thấy cha mình ngồi rất lâu trước một cuốn sổ tay băn khoăn về cái tít vỏn vẹn có 3 chữ ấy. Có lẽ “Tây tiến” là một kỷ niệm đáng nhớ nhất trong cuộc đời binh nghiệp của Quang Dũng nên bài thơ thấm đẫm linh hồn đoàn quân hào hoa ngày nào, ông luôn muốn có một sự chỉn chu đến từng câu chữ.

Cuối cùng đến một ngày Quang Dũng lấy bút sổ béng đi chữ “Nhớ”. Mặc dù khi ấy còn nhỏ, nhưng ông Vĩnh cũng đã buột miệng hỏi sau khi thấy cha “bóp trán” hàng năm trời mà chỉ sửa được vọn vẹn duy nhất một từ: “Chữ “Nhớ” đâu có ảnh hưởng nhiều đến vần điệu bài thơ sao bố nghĩ gì mà lâu thế?”. Khi ấy Quang Dũng chỉ cười mà rằng: “Tây tiến, nhắc đến là đã thấy nỗi nhớ rồi. Thế nên để chữ nhớ là thừa.

Không cần thiết nữa con trai ạ”. Đến quãng năm 1956 có lẽ vẫn chưa “dứt duyên” nổi với “Tây tiến” nên một buổi sáng Quang Dũng lại mang cuốn sổ thơ của mình ra “ngâm cứu”. Rồi như cần đến một người tri kỷ, Quang Dũng gọi con trai lại và hỏi: “Con đọc cho bố nghe cả bài thơ rồi cho nhận xét xem nó thế nào”. Khi ấy tôi còn rất nhỏ – ông Vĩnh nói – mới học lớp 7 nên nào biết cảm nhận văn chương thơ phú nó ra làm sao, thậm chí đọc bài thơ ấy còn thấy hơi… ngang ngang.

Nhà thơ Quang Dũng và bút tích bài thơ “Tây tiến”

Tuy vậy, nhưng ra vẻ con nhà nòi, ông Vĩnh cũng “phán” bừa một câu rằng: “Con thấy câu Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người nghe nó cứ “chối” thế nào.

Hay bố thay cái địa danh khác vào nghe cho nó hợp chứ Mường Hịch nghe nặng nề quá”. Thực ra lúc ấy ông Vĩnh chỉ thấy nó có vẻ không vần điệu lắm với khổ thơ trên, nhưng nghe vậy Quang Dũng ngần ngừ một lát, rồi suy tính thế nào lại mỉm cười nói, thế thì không ổn con trai ạ.

Mãi về sau ông Vĩnh mới vỡ lẽ ra cái sự ngần ngừ không ổn ấy bắt nguồn từ một nguyên do, Mường Hịch còn là một địa danh gắn liền với kỷ niệm bất ngờ của cha mình. Đó là trong một lần hành quân, đoàn quân Tây tiến đã dừng chân ở Mường Hịch gần sông Mã. Người dân nơi đây kể cho Quang Dũng về một con cọp đã thành tinh chuyên bắt người ăn thịt. Rất nhiều dân lành đi rừng đã bị con cọp này vồ mất xác.

Thấy bộ đội có súng nên một số người dân đã ngỏ lời nhờ bộ đội Tây tiến diệt trừ giúp. Vốn là người gan dạ, khỏe mạnh, mới nghe thế máu mã thượng trong người Quang Dũng đã bốc lên. Ông gọi một số anh em trong đơn vị lại rồi lấy một con lợn trói tại gốc cây làm mồi bẫy, còn bản thân cùng anh em chia nhau nấp đợi hổ về.

Nửa đêm, dân làng nghe thấy mấy tiếng súng vọng lại từ rừng già, rồi sau đó là tiếng hổ gầm điên loạn, gần sáng thì thấy Quang Dũng dẫn đầu một tốp bộ đội hớn hở tìm về, người ngợm ướt đẫm sương. Mãi sau này người ta mới biết, lúc bị thương con hổ điên cuồng chống trả, Quang Dũng phải nổ mấy phát súng mới kết liễu được nó. Vậy mà cái địa danh đáng nhớ ấy, suýt nữa thì ông Vĩnh cắt mất của cha mình.

Quang Dũng… còn sống

Mặc dù có người cha là một nhà thơ từng được đánh giá là “nhà thơ mang trong mình dòng máu lãng du vào loại bậc nhất trong thi đàn đất Việt thế kỷ XX” nhưng ông Quang Vĩnh không bao giờ khoe khoang điều đó. Với đám con của mình, ông luôn dặn, ra ngoài đừng bao giờ vỗ ngực là cháu của Quang Dũng cả. Chính vì thế mới xảy ra câu chuyện nực cười.

Đó là khi con gái ông, chị Bùi Phương Lê ngày còn đi học phổ thông, một hôm học đến bài thơ “Tây tiến” của ông nội. Thực ra với chị Phương, bài thơ này đã được chị đọc tới cả trăm lần, đã được ông Vĩnh kể lại cho hàng trăm lần về những kỷ niệm của ông nội trên đường ra trận. Thế nhưng không hiểu sao tiết văn học hôm đó, cả lớp học lại đặc biệt hứng thú với bài thơ này.

Cụ Bùi Thị Thạch – vợ nhà thơ Quang Dũng cùng di cảo chồng để lại Ông Quang Vĩnh – Con trai nhà thơ Quang Dũng

Rất nhiều câu hỏi của học sinh đưa ra về nội dung bài thơ cho thầy giáo. Và để chứng minh mình là người am hiểu, ông thầy hôm đó đã cao hứng kể: Mới tuần trước tôi còn ngồi với Quang Dũng dưới Hà Nội. Rằng câu chuyện về đoạn thơ này, nhà thơ Quang Dũng lấy tứ ở đâu, khổ thơ kia lấy cảm hứng chỗ nào. Chính Quang Dũng tâm sự với tôi như thế. Tóm lại là nghe… như thật.

Mặc dù rất băn khoăn, nhưng khi đó chị Lê cũng phải sững sờ vì thực tế khi đó Quang Dũng đã mất được chục năm. Hết giờ học, chị về kể lại điều đó với ông Vĩnh. Không chỉ riêng ông Vĩnh mà cả nhà đều tròn xoe mắt. Riêng bà Bùi Thị Thạch – vợ nhà thơ Quang Dũng, bây giờ vẫn ở chung với con giai trưởng thì cười độ lượng: “Ông mày làm một bài thơ mà bây giờ thành bất tử.

Thế là hơn đứt nhiều người rồi còn gì”. Tất nhiên, câu chuyện Quang Dũng đột nhiên sống lại trong một tiết văn học của học sinh cấp III đến nay chỉ có gia đình nhà thơ biết và mỗi khi nhắc đến những kỷ niệm về Quang Dũng, bà Thạch vẫn tường thuật lại câu chuyện đó như một cách trách yêu ông chồng tài hoa của mình.

Bài thơ Tây tiến đáng giá bao nhiêu?

Bút tích “Tây tiến” của Quang Dũng với nét chữ nắn nót như học trò, bây giờ vẫn được lưu giữ tại nhà ông Quang Vĩnh ở Thái Nguyên. Ông Vĩnh kể, khi mới ra đời, bài thơ này gây được tiếng vang rất lớn bởi khi đó đại đa số chiến sĩ trong đoàn quân Tây tiến là trí thức, học sinh, sinh viên Hà Nội. Nét hào hoa trong từng câu chữ nói về đoàn quân “xanh màu lá” khiến cho không ít thiếu nữ Hà thành có người yêu là lính Tây tiến phải nhỏ lệ.

Chính vì vậy, cho đến mãi tận sau này, có lẽ đây là bài thơ duy nhất của người lính Cộng sản miền Bắc được ngay cả những người lính Ngụy miền Nam cũng yêu thích chép lại trong sổ tay. Nhiều nhà xuất bản dưới thời Việt Nam cộng hòa cũng cho in hàng loạt. Mỗi lần in xong, không biết bằng cách nào, nhưng họ đều gửi sách biếu đến tận nơi. Tuy nhiên, để tránh những sự hiểu lầm đáng tiếc, Quang Dũng đều mang đốt sạch.

Sau này khi đất nước hoàn toàn thống nhất, bỗng một hôm gia đình Quang Dũng nhận được một lá thư gửi đến từ địa chỉ không quen biết. Nội dung trong thư là của một tỷ phú đất Sài Gòn. Giống hệt như trong chuyện “Chữ người tử tù” của nhà văn Nguyễn Tuân, ông tỷ phú nọ ngỏ lời mời Quang Dũng vào Sài Gòn chơi một chuyến để ông ta được ngồi cùng đàm đạo.

Trong thư, ông tỷ phú tha thiết đài thọ toàn bộ mọi phí tổn chuyến đi, những mong Quang Dũng vào đó và tự tay chép tặng ông ta bài thơ “Tây tiến” để ông ta treo tại bàn làm việc. Lẽ ra với một người hâm mộ thơ của mình như thế thì có lẽ cha tôi cũng đã “chẳng phụ một tấm lòng tri kỷ trong thiên hạ” – ông Vĩnh kể.

Thế nhưng, cuối lá thư, ông tỷ phú nọ lại “dại dột” tái bút: Nếu được ông chiếu cố vào viết tặng cho bài thơ “Tây tiến” thì thù lao chí ít cũng phải là một chiếc Honda. Ngoài ra nếu ông có thể tặng thêm cho vài câu thơ khác thì số quà tặng còn giá trị hơn rất nhiều. Đọc xong lá thư – ông Vĩnh kể tiếp – cha tôi chỉ cười nhạt mà rằng: “Văn chương chữ nghĩa rẻ rúng đến thế ư?”. Rồi có lẽ câu chuyện gạ “bán thơ” ấy ông cũng quên khuấy mất trong mớ ngẫu sự thường ngày.

Bằng chứng là sau năm 75 khi có dịp vào Sài Gòn thăm chị gái, ông cũng chỉ ở rịt trong nhà chẳng đi ra đến ngoài. Duy nhất có một lần bà chị gái ép Quang Dũng đi chơi phố thì ông nhất định đòi phải cải trang ăn mặc thành một tay chơi đất Sài Gòn rồi mới chịu bước chân ra đường. ấy thế mà vẫn có người nhận ra.

Lần đó Quang Dũng đứng chọn sách trong một tiệm bán văn hóa phẩm, một người đàn ông trung niên đi ra bỗng vỗ vai ông hỏi: “Ông có phải Quang Dũng – tác giả “Tây tiến” không, tôi nhìn giống bức ảnh trong cuốn sách ở nhà lắm”. Ông Vĩnh kể, không hiểu cha tôi học tiếng Nam khi nào mà ông trả lời ngay: “Ông nhầm rồi, tôi ở Bạc Liêu mới zô”.

Ông Vĩnh nói vui: Có lẽ cha tôi lại sợ có người gạ “bán thơ” nên mới không dám nhận như thế. GS Hoàng Như Mai cũng kể lại: “Sau giải phóng, tôi vào Sài Gòn giảng bài, có đọc sách báo cũ. Về Hà Nội, tôi bô bô với Quang Dũng: Này ông, ở Sài Gòn họ ca tụng ông ghê lắm. Quang Dũng vội xua tay: “Thôi xin ông, ông đừng nói với ai nhé”.

Mặc dù “giàu thơ” như thế, nhưng Quang Dũng lại có cuộc sống hết sức đạm bạc. Bà Thạch, vợ nhà thơ nhớ lại, năm 1960 có một phái đoàn văn hóa nước ngoài sang Việt Nam cứ nhất định đòi đến thăm tư gia tác giả Tây tiến. Căn nhà bé tí tẹo của ông ở 91 Lý Thường Kiệt lại… hơi tồi tàn nên cơ quan “tạm” chuyển ông tới 51 Trần Hưng Đạo nay là trụ sở Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam cho đẹp mặt.

Có lẽ muốn giữ thể diện cho những nhà thơ Việt Nam trong con mắt khách nước ngoài nên Quang Dũng đành chấp nhận màn kịch ấy. Ngay cả đến khi bị liệt, Quang Dũng cũng dạo chơi phố phường Hà Nội lần cuối trên chiếc xe lăn do bạn bè nước ngoài gửi tặng. Cho đến tận những ngày cuối đời nhà thơ hào hoa này vẫn chọn cho mình một cuộc sống thanh bạch.

(Theo ANTĐ)

Cảm nhận triết lý tục ngữ, ca dao

Bà ngoại tôi 85 tuổi dương, cộng với 15 tuổi âm, tính cho đến nay cụ tròn một trăm tuổi. Sinh thời bà tôi không biết chữ, nhưng lại là một kho tàng ngạn ngữ ca dao như rất nhiều cụ già khác. Và bà rất ưa thanh sắc.Vì vậy khi cậu tôi lấy vợ bà cụ mủm mỉm cười, bảo: “Ra đường thấy vợ nhà người.Về nhà thấy cái nợ đời nhà ta”.

Cậu tôi cũng gượng cười theo. Lại khi anh con nhà hàng xóm lấy vợ, nghe bảo vợ giàu. Giàu thì kín khó thấy, chỉ dễ thấy chị ấy gầy gò, mặt bủng, da chì, mắt lại có rất nhiều vết trắng. Bà tôi bảo: “Ở đời tham của thì thua. Của ăn thì hết, mà cái phỗng thờ vua hãy còn“.

Ngày ấy tôi còn đang say mê học toán, nên chỉ thấy hay hay, và láng máng một dự cảm rằng đấy là bóng dáng của một thế giới mênh mông huyền bí. Bây giờ thì đã được… một cái năm mươi, học mót được đôi điều càng ngẫm càng thấy các giá trị không thể đo lường hết được của kho tàng vĩ đại là ca dao, tục ngữ, ngạn ngữ…

Sau thời khoác áo lính tôi đam mê khoa học xã hội, vào Tổng hợp Sử, song lại được ưu tiên làm Triết. Trong tất cả các thứ không chuyên cấu thành sự hiểu biết thực tình là rất hạn hẹp của tôi, cái ít không chuyên hơn cả là lĩnh vực lịch sử tư tưởng. Rồi các sự tình nối tiếp nhau xảy ra, tôi lỗi cả phần đời lẫn phần đạo, cả tính cách, cả vốn sống, cả nghề nghiệp và tâm tưởng… tất cả những gì ở tôi nó cứ rối tung lên thành một món… “tả pí lù”. Tôi yêu cả cụ Ngô Tất Tố lẫn Lãng nhân Phùng Tất Đắc, tôi thích như nhau cả Thôi Hiệu lẫn Trần Tử Ngang, tôi mê như nhau cả Bà Huyện Thanh Quan lẫn Hồ Xuân Hương… nhưng trên tất cả tôi say mê ca dao, ngạn ngữ… Mê là mê vậy thôi, chứ nghiên cứu thì không dám… “Lưng vốn nhà cháu nó không được trường… các bác sĩ cho nhà cháu được mua lẻ chứ không dám mua sỉ”.

Cứ như thế, mỗi năm trời lại cho riêng tôi thêm một tuổi. Tôi nhớ bà ngoại, và trở lại với tục ngữ ca dao… kết quả ngày càng thêm… “Hắt xì! Sống khoẻ này! Sống lâu này! Cơm cá này! Cơm thịt này!”. Rồi từ lúc nào chẳng rõ, tôi cũng hay nói như bà ngoại nói: “quá mù sang mưa”, “lửa gần rơm lâu ngày cũng bén”, hơn là nói “Đến điểm tột cùng của khoảng độ, thì sự thay đổi về lượng không còn thuần tuý là sự thay đối về lượng nữa, mà đồng thời gây ra sự thay đổi về chất”, triết học gọi thế là chuyển hoá từ những thay đổi về lượng thành sự thay đổi về chất gọi tắt là quy luật lượng-chất. Nói thế không biết có quá không.

Có người bảo, sức sống của một dân tộc và của một nền văn hoá được thể hiện rõ nhất là qua những cuộc chiến tranh. Người Việt Nam ta về mặt này cứ gọi là … yên trí lớn. Nhưng có lẽ còn cần phải nói thêm về một thể hiện khác, đó là sự cọ sát với những nền văn hoá lạ. Trong văn hoá của ta có rất nhiều hình bóng của văn hoá Ấn Độ, Trung Quốc, Pháp… nhưng dẫu sao họ vẫn chỉ là khách kể cả khi khách thân gia chủ đến mức xuống bếp trông hộ nồi xôi! Khách dẫu có sang đến đâu, “nhập gia” cứ phải là “tuỳ tục”. Cho nên thơ Đường trang trọng hia mũ đến mấy, về tay “Bà chúa thơ Nôm” lập tức mang dáng vẻ rất “hề gậy”: “Một đèo, một đèo, lại một đèo. Khen ai khéo tác cảnh treo leo” Rõ là Ba Đội. “Đến nước Lào thì phải ăn mắm ngóe”.

Triết lý trong tục ngữ, ca dao rất thông minh trong biết đủ biết dừng, đôi khi dừng rất hóm. Một trong những nguyên tắc của thẩm mỹ là biết dừng. Có thể gọi đó là một triết lý trong nghệ thuật hay là nghệ thuật… trong triết lý. Lột ra bằng hết thì còn hay hớm gì. Cho nên nói: “Người xinh cái nết cũng xinh. Người giòn cái tỉnh tình tinh cũng giòn”. Là một lối nói thật hay, thật đủ. Cuộc đời vốn như vậy, khép mở, riêng chung… Cái “tỉnh tình tinh” là cái gì? Xin đừng biến nó thành một đề tài nghiên cứu khoa học. Nó là cái gì mà anh có thể nói chỉ riêng anh thôi, cảm nhận theo cách của anh, khác với lối cảm nhận ở người khác. Tại sao, lại bảo nó giòn, cũng thế. Không ai biến được nó thành một món nhắm rượu. Cho nên nó cứ là một ẩn số, nhờ thế mà nó làm linh mãi trên dòng đời của bao nhiêu thế hệ. Hiện thực không bị “vắt kiệt” thành một “bộ xương khô” mà giữ lại một đầm đìa đời sống. Nó vừa là tài liệu, vừa là nguyên lý, nó vừa khuyến cáo, vừa khoan dung, hàm chứa các cách nghĩ cách cảm khác nhau, đôi khi đối lập nhau. Hiểu nó và vận dụng nó là tuỳ cảnh huống của mỗi thời, mỗi nơi, mỗi người. Bảo là “một giọt máu đào hơn ao nước lã” , “máu chảy đến đâu nuôi bầu đến đấy” thì đã đành, nhưng “bán anh em xa mua láng giềng gần” hay “người dưng có ngãi ta đãi người dưng, anh em không ngãi ta đừng anh em” thì cũng rất thuyết phục. Rằng “một ngày tựa mạn thuyền rồng, còn hơn chín tháng nằm trong thuyền chài” là cách lựa chọn của ai đó mà chưa ai dám bảo là dại, nhưng tha thiết ân tình đến độ “Chồng em áo rách em thương, chồng người áo gấm sông hương mặc người” thì cũng rất thật mà lại rất lãng mạn, ối người vợ như thế “chứ còn gì ạ”.

Theo một lối suy ngẫm nào đó, có thể coi những thể ngữ ca dao đọng lại cho đến bây giờ là kết quả của vô vàn những cuộc tuyển chọn, nên thường là những điều người hôm nay vẫn tâm đắc, gật gù, thấy chúng. nghiệm đúng với mình. Thế là chúng mang tính triết lý. Triết lý chẳng qua là những kinh nghiệm sống, nghiệm đúng nhiều trường hợp. Nghiệm đúng càng nhiều thì triết lý càng nâng cao. Ví dụ người Việt bảo “cha nào con ấy”, thì người Pháp cũng nói “cha nào con ấy” (chỉ khác nói… bằng tiếng Pháp) bởi vì ở đâu cũng vậy, tâm hồn con trẻ là tờ giấy trắng mà dấu ấn gia đình được in lên. Ưu thế của triết lý dân gian là một triết lý có thể được phổ biến bằng nhiều cách, cách nào cũng vẫn “còn thịt”, có mùi vị của cuộc sống, quên câu này còn có thể nhớ câu kia. Cùng một nguyên lý “cha nào con ấy”, người ta còn nói “con ai mà chẳng giống cha, cháu nào mà chẳng giống bà giống ông”, “giỏ nhà ai quai nhà nấy“, “trứng rồng lại nở ra rồng, liu điu lại nở ra dòng liu điu”… và chắc còn nhiều nữa.

Lại nữa, triết lý dân gian vì gắn với đời sống, nên bao gồm cả các vấn đề có ý nghĩa chung nhất của vũ trụ quan và nhân sinh quan, lẫn những vấn đề của những mảng sống hẹp hơn, có dân tộc này có thể không có ở dân tộc kia. Đúng ở vùng này nhưng không đúng ờ vùng khác như: “Thọ tỷ Nam sơn, phúc như Đông hải” chỉ có ở Trung Quốc, ai muốn mượn thì phải ghi chú, hoặc “Thuận vợ, thuận chồng tát biển Đông cũng cạn. Thuận bè, thuận bạn tát cạn biển Đông” thì chỉ có ở Việt Nam. “Đứng bên ni đồng ngó bên tê đồng mênh mông bát ngát, đứng bên tê đồng ngó bên ni đồng, bát ngát mênh mông” thì chắc hẳn không nẩy sinh ở đồng bằng Bắc Bộ… Thế mà vừa triết lý, vừa mô tả, thành ra người đọc không bị chán. Cung cách diễn đạt lại rất linh hoạt uyển chuyển, còn ghi đậm cấu trúc thẩm mỹ của cư dân, nên luôn có yếu tố lạ, mới, gây hiệu quả thẩm mỹ cho người ta và còn nhiều thế mạnh khác làm cho tuổi thọ của chúng rất dài.

Chúng ta còn có thể khảo sát tính triết lý trong tục ngữ, ca dao… theo các bình diện của đời sống: “Chuồn chuồn bay thấp thì mưa” ngập bờ ao thuộc nhóm kinh nghiệm thời tiết: “Thâm đông tím bắc thì mưa. Khép mông nhọn đít là chưa có chồng” là cả thiên nhiên lẫn con người: “Lá rụng về cội”, “Cóc chết ba năm quay đầu về núi” là mối liên hệ với cội nguồn trong đời sống nhân tính: “Anh em như chân tay. Vợ chồng như áo cởi ngay vứt liền”, là một ứng xử của người chồng trước một cuộc cãi lộn chị dâu em chồng…

Chúng ta sẽ lần lượt đi từng ô, trong cả một vườn hoa mênh mông, cả về chủng loại hoa, lẫn độ lớn của khu vườn vô giá này.

Song Phan
Người Hà Nội

Thơ Nguyễn Bính

th%c6%a1-nguy%e1%bb%85n-binh.doc

Trong tệp đính kèm là một số tác phẩm của nhà thơ nguyễn Bính, quý vị nào thích có thể mở ra để đọc hay tải về làm dữ liệu.

Trân trọng,

Cao lang.

Ăn vóc học hay

Làm cha, làm mẹ ai chẳng muốn những đứa con mình mang nặng đẻ đau chóng khôn lớn, trưởng thành. Con cái khoẻ mạnh, có kiến thức là nỗi ước mong của người cha, người mẹ. Họ chẳng bao giờ tiếc công, tiếc của đối với việc nuôi dạy con cái thành người. Nhận thức đó được thể hiện qua câu tục ngữ: ăn vóc học hay.

Trong câu tục ngữ này các từ vóchay là những từ khó hiểu, cần được làm sáng rõ. Trước hết hay trong học hay có nghĩa là giỏi. Chúng ta cũng đã từng gặp hay theo nghĩa này qua các từ ngữ hay giỏi, hay chữ (Muốn sang thì bắc cầu kiều, muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy). Vì hay là một tính từ nên vóc – từ đối ứng với nó cũng phải là một tính từ. Tuy vậy trong văn học dân gian và các truyện Nôm, vóc thường xuất hiện với nghĩa danh từ để chỉ thân thể, dáng hình của con người, chẳng hạn: vóc ngọc mình vàng, lớn người to vóc, vóc sương, vóc bồ liễu… Với ý nghĩa này, vóc không tương ứng với hay trong học hay. Nhưng có lẽ trong tiếng Việt, vóc đã được chuyển nghĩa từ chỗ chỉ thân thể sang chỉ đặc tính khoẻ mạnh của con người, chẳng hạn, có vóc được dùng để chỉ “sự cao lớn chắc chắn”, vóc dạc chỉ hình tích cao lớn. Do đó, câu tục ngữ ăn vóc học hay được hiểu là ăn khoẻ, học hành giỏi giang.

Cố nhiên, ăn vóc học hay thường thể hiện quan niệm và lòng mong muốn của các bậc cha mẹ đối với con cái. Họ hiểu rằng công sức, tiền của dùng để nuôi dưỡng và cho con cái ăn học cũng cốt để cuối cùng làm cho con cái mình khoẻ mạnh, khôn lớn, tuyệt nhiên là không lãng phí, vô ích. Ăn vóc học hay vì vậy trở thành niềm vui, sự động viên, lòng tin tưởng của các bậc cha mẹ đối với nhiệm vụ nuôi dạy con cái. Mở rộng ra, ăn vóc học hay cũng trở thành niềm tin của mọi người đối với công sức của mình trong việc rèn luyện và học tập. Phàm những ai biết khổ luyện và chịu khó học hành nhất định sẽ tài giỏi hơn và có cơ để thành đạt trong sự nghiệp và cuộc đời.

(Theo Dan tri)

“Xuân thì”: Vẻ đẹp mang tên Thái Phiên

Bìa sách “Xuân thì”

Tôi và Thái Phiên gặp nhau ở một quán cà phê. Nắng Sài Gòn dịu hẳn khi Phiên mang quyển Xuân thì còn thơm mùi mực tới.

Được và mất của người nghệ sĩ

Trước tiên là xem sách. Màu xanh không phải là màu hợp với mạng của tôi, nên bình thường, tôi không thích màu xanh. Nhưng quả thật là bìa sách quá đẹp. Đó là nền một bức ảnh của Thái Phiên, màu xanh gợn lên, ở giữa, cô gái khỏa thân nằm nổi bật với làn da trắng mịn.

Ở Việt Nam, nghệ sĩ nhiếp ảnh chụp nuy không chỉ có riêng Thái Phiên. Người ta còn nhắc tới Trần Huy Hoan, Lê Quang Châu, cố nghệ sĩ Trọng Thanh, Dương Quốc Định… Nhưng người ra sách đầu tiên về ảnh khỏa thân, là Thái Phiên. Anh cũng là người đầu tiên xin được giấy phép làm triển lãm ảnh khỏa thân tại Hà Nội, nơi mà sự khắt khe, chuẩn mực đáng kính hơn nhiều ở mảnh đất Sài Gòn ồn ào, hiện đại.

Trang web của Thái Phiên vừa rồi đã phải chia ra đến 3 server vì số lượng truy cập nhiều quá. Tác phẩm được Thái Phiên cập nhật đưa lên web, rồi thiên hạ cứ thế nhảy vào, copy đưa lên minh họa, có khi còn minh họa cho cả những bài báo về sự thác loạn, chơi bời của một số người nào đó. Và đương nhiên, họ không trả cho Thái Phiên một đồng bạc nhuận ảnh nào, chưa kể sự sỉ nhục nghệ thuật, cay đắng không sao nói hết được bằng câu, bằng chữ.

Thái Phiên bảo có nhiều nhà báo nói anh nên khởi kiện, không phải vì cho cá nhân mình, mà là cho những vụ việc sai trái đó không thể lặp lại thêm nhiều nữa. Không thể cứ làm sai, thì xin lỗi rồi lại làm sai. “Tiền bạc thì có đáng được là bao, nổi tiếng thì tôi đã có rồi, đâu cần thêm những chuyện lùm xùm này nữa. Tôi biết, kiện xong, mình được, nhưng người ta mất, vậy thì có vui vẻ gì!”, nghệ sĩ Thái Phiên nói.

Nhà tài trợ đặc biệt

“Qua cuốn sách Xuân thì, tôi hy vọng công chúng sẽ hiểu rõ hơn về nghệ thuật ảnh khỏa thân. Trước đây có sự nhập nhằng giữa ảnh khiêu dâm và ảnh nghệ thuật. Giờ thì mọi việc cần phải được gọi đúng với bản chất của nó” – Thái Phiên

Ý định làm tập sách riêng về ảnh nuy của Thái Phiên đã có từ lâu, nhưng chỉ thành hiện thực khi một hôm, anh nhận được cú điện thoại của ông Nguyễn Đức Bình, Giám đốc NXB Văn nghệ. Ông nói: “Thái Phiên hả, tôi đọc trên mạng một bài người ta phỏng vấn ông, ông trả lời rằng, ông rất muốn ra một tập sách ảnh khỏa thân, nhưng chưa tìm được đầu ra. Vậy thì tôi sẽ giúp!”.Sau cú điện thoại chia sẻ ấy, Thái Phiên bắt tay vào thực hiện. Trước tiên, nghệ sĩ nhiếp ảnh đi tìm tất cả các người mẫu để hỏi ý kiến. Hỏi rằng: Em ơi, bức ảnh đã chụp em giờ đưa in sách có được không? Người mẫu đồng ý thì bắt đầu chọn hình ảnh. Rồi Phiên gửi ảnh ra Hội Nghệ sĩ nhiếp ảnh Việt Nam. Hội đã phải thành lập một Hội đồng nghệ thuật để thẩm định, đánh giá từng bức ảnh. Cuối cùng, Hội Nghệ sĩ nhiếp ảnh Việt Nam đã có một văn bản gửi cho tác giả. Văn bản đó có câu: “Ảnh đạt tiêu chuẩn nghệ thuật, không vi phạm thuần phong mỹ tục”. Sau đó, Thái Phiên mang hình ảnh cho Giám đốc Nhà Xuất bản Văn nghệ Nguyễn Đức Bình duyệt market. Lần thứ nhất, mang 80 bức ảnh, được chọn 65 bức. Lần thứ hai, mang 75 bức, được chọn 68 bức. Lần thứ ba, Phiên mang tới 71 bức, nghĩ rằng giờ thì đã qua nhiều khâu sàng lọc rồi, cùng lắm là bị loại 1 bức ảnh, để cho cuốn sách tròn con số 70 tác phẩm là đẹp. Nhưng tới lần thứ ba này, thì Giám đốc Bình đã chọn toàn bộ số ảnh mà nghệ sĩ nhiếp ảnh Thái Phiên mang tới. Vì thế, cuốn sách Xuân thì của Thái Phiên dừng ở con số 71 tác phẩm ngẫu nhiên như thế.

 
 

Các tác phẩm của Thái Phiên

Khi biết Thái Phiên in sách, một công ty cũng đã liên hệ với anh để hỗ trợ chi phí in ấn, với điều kiện là in logo ở các trang chuyển chương và ở bìa 4. Đồng thời, trong triển lãm phải có sản phẩm của họ cũng như trên các tác phẩm treo trong triển lãm đều có dòng chữ: “tác phẩm được in bằng máy in A” Số tiền tài trợ lên tới 120 triệu, nhưng sau khi thương lượng các điều kiện, Thái Phiên đã từ chối. Đơn giản vì: “Triển lãm và cuốn sách của tôi là nghệ thuật thuần khiết. Cuối cùng, người tài trợ cho cuốn sách của tôi là bà xã tôi. Nhà tài trợ này không yêu cầu đặt một cái logo nào trong cuốn sách cả!”, Thái Phiên cười tít cả mắt lại.

Khi in sách, Thái Phiên là người ký bản bông, tăng giảm chỉ số màu trong quá trình in. Tác giả chăm chút rất kỹ lưỡng màu sắc. Có anh công nhân in đã phàn nàn: “Em tăng giảm màu cho anh vui lòng vậy thôi, chứ có thấy màu sắc khác nhau gì đâu”. Còn Phiên giải thích: “Nhưng tôi cảm giác được màu. Có khi chỉ là +1 hoặc -1 màu vàng hoặc màu đỏ, là bức ảnh đã khác rồi”.

Xuân thì in xong, đẹp quá, đến mức Giám đốc Nhà in Trần Phú Nguyễn Văn Dòng phải nói: “Tôi in cả ngàn sản phẩm, mà sản phẩm nào cũng chục ngàn bản. Còn in sách của Thái Phiên chỉ có hai ngàn bản thôi, lại in khó vì giấy mắc tiền, chất lượng màu sắc rất cẩn thận nhưng lại thấy rất thích. Tôi biết, in cuốn sách này chúng tôi không phải vì kinh doanh, mà vì yêu cái đẹp, yêu nghệ thuật”. Xuân thì được tặng cho người mẫu, 70 người mẫu mỗi người một cuốn, nhiều người còn xin thêm, tác giả nào lại nỡ lòng từ chối! Vậy nên, “sau cuốn sách này, tôi lời khoảng 200-300 cuốn sách để tặng bạn bè. Thế là mãn nguyện lắm rồi!”, người nghệ sĩ 15 năm bấm máy cho các bức hình khỏa thân giờ ngồi cười hiền như con nai trong quán cà phê thành thật vậy.“Các con” của tôi không phải là điếm!

Cũng vì đã chịu bao nhiêu búa rìu dư luận, nên Phiên mới quyết định làm triển lãm ảnh khỏa thân để đòi lại sự công bằng cho nghệ thuật ảnh khỏa thân. Một sự chính danh của nghệ thuật chân chính làm dịu đi những nỗi đau, nỗi oan mà người nghệ sĩ đã phải chịu biết bao năm nay. “Nếu em sinh ra một đứa con thiên thần, bị thiên hạ gọi là điếm, em có đau lòng không? Các bức ảnh nghệ thuật khỏa thân của tôi cũng vậy! Cuốn sách Xuân thì và Triển lãm ảnh Xuân thì sẽ giúp tôi rửa nỗi oan này” – nghệ sĩ nhiếp ảnh rưng rưng.

Để câu chuyện bớt nặng nề, tôi hỏi anh về một bức ảnh anh đã gửi cho tôi xem, bức Lộng gió. Cô gái hai tay cầm mảnh vải đỏ, đứng hiên ngang giữa trời, đất và biển. Màu xanh của biển, của trời, màu da trắng hồng của thiếu nữ, màu đỏ của tấm vải tạo sự đối nghịch về màu sắc. Và với dáng đứng dũng cảm của cô gái, như một sự thách thức của cái đẹp hình thể mềm mại của con người đối với sự dữ dằn mạnh bạo của thiên nhiên. Bức ảnh được chụp tại Hòn Quy, Phan Rang. Bữa đó biển yên, Thái Phiên cùng một nghệ sĩ nhiếp ảnh khác và người mẫu thuê riêng một tàu đáy kính xem san hô để ra Hòn Quy. Vì tàu đáy kính chẳng thể vào bờ được nên ông chủ tàu đưa từng người và đồ nghề lỉnh kỉnh lên thuyền thúng, sau đó tàu quay lại đất liền, tới chiều mới đón. Trên Hòn Quy, đúng là một ngày lộng gió thật, người mẫu khỏa thân hồn nhiên đi lại, nghệ sĩ thoải mái sáng tác. Không có một ai dòm ngó. Cuối cùng Thái Phiên đã có 4-5 bức hình ưng ý vào ngày hôm đó.

Đinh Thu Hiền

(Theo Thanh nien)

Bài thơ học tiếng Anh

Long dài, short ngắn, tall cao
Here đây, there đó which nào, where đâu
Sentence có nghĩa là câu
Lesson bài học, rainbow cầu vồng
Husband là đức ông chồng
Daddy cha bố, please don’t xin đừng
Darling tiếng gọi em cưng
Merry vui thích, cái sừng là horn

Rách rồi xài đỡ chữ torn
To sing là hát, a song một bài
Nói sai sự thật to lie
Go đi, come đến, lie nằm
Five năm, four bốn, hold cầm play chơi
One life là một cuộc đời
Happy vui sướng, laugh cười, cry kêu
Lover tạm dịch người yêu
Charming duyên dáng, mỹ miều graceful
Mặt trăng là chữ the moon

World là thế giới, sớm soon, lake hồ
Dao knife, spoon muỗng, cuốc hoe
Đêm night, dark tối, khổng lồ giant
Fun vui, die chết, near gần
Sorry xin lỗi, dull đần, wise khôn

Burry có nghĩa là chôn
Our souls tạm dịch linh hồn chúng ta
Xe hơi du lịch là car
Sir ngài, Lord đức, thưa bà madam

Thousand là đúng mười…trăm
Ngày day, tuần week, year năm, hour giờ
Wait there đứng đó đợi chờ
Nightmare ác mộng, dream mơ, pray cầu
Trừ ra except, deep sâu
Daughter con gái, birdge cầu, pond ao

Enter tạm dịch đi vào
Thêm for tham dự lẽ nào lại sai
Shoulder cứ dịch là vai
Writer văn sĩ, cái đài radio

A bowl là một cái tô
Chữ tear nước mắt, tomb mồ, miss cô
Máy khâu dùng tạm chữ sew
Kẻ thù dịch đại là foe chẳng lầm
Shelter tạm dịch là hầm
Chữ shout là hét, thì thầm wishper

What time
là hỏi mấy giờ
Clear trong, clean sạch, mờ mờ là dim
Gặp ông ta dịch see him
Swim
bơi, wade lội, drown chìm chết trôi

Mountain là núi, hill đồi
Valley thung lũng, cây sồi oak tree
Tiền xin đóng học school fee
Yêu tôi dùng chữ love me chẳng lầm

To steal tạm dịch cầm nhầm
Tẩy chay boycott, gia cầm poultry
Cattle gia súc, ong bee
Something to eat chút gì để ăn
Lip môi, tongue lưỡi, teeth răng
Exam thi cử, cái bằng Licence
Lovely có nghĩa dễ thương
Pretty xinh đẹp, thường thường so so
Lotto là chơi lô tô
Nấu ăn là cook, wash clothes giặt đồ

Push
thì có nghĩa đẩy, xô
Marriage đám cưới, single độc thân
Foot thì có nghĩa bàn chân
Far thì xa cách còn gần là near
Spoon có nghĩa cái thìa
Toán trừ subtract, toán chia divide

Dream có nghĩa giấc mơ
Month thì là tháng, thời giờ là time
Job thì có nghĩa việc làm
Lady phái nữ, phái nam gentleman
Close friend có nghĩa bạn thân
Leaf là chiếc lá, còn sun mặt trời

Fall down có nghĩa là rơi
Welcome chào đón, mời là invite
Castle được dịch lâu đài
Mũ thì là hat, chiếc hài là shoe

Autumn có nghĩa mùa thu
Summer mùa hạ, nhà tù là jail (prison)
Duck là vịt pig là heo
Rich là giàu có, còn nghèo là poor
Crab
thì có nghĩa con cua
Church nhà thờ đó, còn chùa temple

Aunt
có nghĩa dì, cô
Chair là cái ghế, còn hồ là pool
Late là muộn, sớm là soon
Hospital bệnh viện, school là trường
Dew thì có nghĩa là sương
Happy vui vẻ, chán chường weary

Exam có nghĩa kỳ thi
Nervous nhút nhát, mommy mẹ hiền
Region có nghĩa là miền
Interupted gián đoạn, còn liền next to
Coins dùng chỉ những đồng xu
Còn đồng tiền giấy paper money
Here dùng để chỉ tại đây
A moment một lát, còn ngay right now
Brothers-in-law đồng hao
Farm-work đồng áng, đồng bào fellow-countryman
Narrow-minded chỉ sự nhỏ nhen
Open-handed hào phóng còn hèn là mean
Vẫn còn dùng chữ still
Kỹ năng là chứ skill khó gì
Gold là vàng, graphite than chì

Munia tên gọi chim ri
Kestrel chim cắt có gì khó đâu
Migrant kite là chú diều hâu
Warbler chim chích, hải âu petrel
Stupid có nghĩa là khờ
Đảo lên đảo xuống, stir nhiều nhiều

How many có nghĩa bao nhiêu
Too much nhiều quá, a few một vài
Right là đúng, wrong là sai
Chess là cờ tướng, đánh bài playing card
Flower
có nghĩa là hoa
Hair là mái tóc, da là skin

Buổi sáng thì là morning
King là vua chúa, còn Queen nữ hoàng
Wander có nghĩa lang thang
Màu đỏ là red, màu vang yellow
Yes là đúng, không là no
Fast là nhanh chóng, slow chậm rì
sleep là ngủ, go là đi
Weakly ốm yếu, healthy mạnh lành
White là trắng, green là xanh
Hard là chăm chỉ, học hành study
Ngọt là sweet, kẹo candy
Butterfly là bước, bee là con ong
River có ghĩa dòng sông
Wait for có nghĩa ngóng trông, đợi chờ
Dirty có nghĩa là dơ
Bánh mì bread còn bơ butter
Bác sĩ thì là doctor
Y tá là nurse, teacher giáo viên
Mad dùng chỉ những kẻ điên
Everywhere có nghĩa mọi miền gần xa
A song chỉ một bài ca
Ngôi sao dùng chữ star có liền
Firstly có nghĩa trước tiên
Silver là bạc, còn tiền money
Biscuit thì là bánh quy
Can là có thể, please vui lòng
Winter có nghĩa mùa đông
Iron là sắt còn đồng copper
Kẻ giết người là killer
Cảnh sát Police, Lawyer luật sư
Emigrate là di cư
Bưu điện post office, thư từ là mail
Follow có nghĩa đi theo
Shopping mua sắm còn sale bán hàng
Space có nghĩa không gian
Hàng trăm hundred, hàng ngàn thousand
Stupid có nghĩa ngu đần
Thông minh smart, equation phương trình
Television là truyền hình
Băng ghi âm là tape, chương trình program
Hear là nghe, watch là xem
Electric là điện còn lamp bóng đèn
Praise có nghĩa ngời khen
Crowd đông đúc, lấn chen hustle
Capital là thủ đô
City thành phố, local địa phương
Country có nghĩa quê hương
Field là đồng ruộng còn vười garden
Chốc lát là chữ moment
Fish là con cá, chicken gà tơ
Naive có nghĩa ngây thơ
Poet thi sĩ, great writer văn hào
Hight thì có nghĩa là cao
Wide là rộng còn chào hello
Shy mắc cỡ,coarse là thô
Go away đuổi cút, còn vồ là pounce
Poem có nghĩa là thơ
Strong khỏe mạnh, mệt phờ dog-tireded
Bầu trời thường gọi sky
Life là sự sống còn die lìa đời
Shed tears có nghĩa lệ rơi
Fulli là đủ, nửa vời halves
Ở lại dùng chữ stay
Bỏ đi là leave còn năm là lie
Tomorrow có nghĩa ngày mai
Hoa sen lotus, hoa lài jasmine
Madman có nghĩa người điên
Private có nghĩa là riêng của mình
Cảm giác là chữ feeling
Camera máy ảnh còn hình photo
Động vật là animal
Big là to lớn, little nhỏ nhoi
Elephant là con voi
Goby cá bống, cá mòi sardine
Mỏng mảnh thì là chữ thin
Cổ là chữ neck còn chin là cằm
Visit có nghĩa viếng thăm
Lie down có nghĩa là nằm nghỉ ngơi
Mouse con chuột, bat con dơi
Separate có nghĩa tách rời, chia ra
Gift thì có nghĩa món quà
Guest thì có khách, chủ nhà house owner
Bệnh ung thư là cancer
Lối ra exit, enter đi vào
Up lên, còn xuống là down
Beside bên cạnh, about khoảng chừng
Stop có nghĩa là ngừng
Ocean là biên, rừng là jungle
Silly là kẻ dại khờ
Khôn ngoan smart, đù đờ luggish
Hôn là kiss, kiss thật lâu
Pregnant để chỉ “cô dâu có bầu”
Cửa sổ là chữ window
Special đặc biệt, normal thường thôi
Lazy làm biếng quá rồi
Ngồi mà viết tiếp một hồi die soon
Hứng thì cứ việc go on
Còn không, stop ta còn nghỉ ngơi.

Caolang (ST)

%d bloggers like this: