Quan niệm về mặc và nguồn gốc nông nghiệp trong chất liệu may mặc của người Việt

Đối với con người, sau ăn thì đến Mặc là cái quan trọng. Nó giúp cho con người đối phó được với cái nóng, cái rét của thời tiết, khí hậu. Nhân dân ta nói một cách đơn giản : Được bụng no, còn lo ấm cật .Vì vậy, cũng như trong chuyện ăn, quan niệm về mặc của người Việt Nam trước hết là một quan niệm rất thiết thực : “Ăn lấy chắc, mặc lấy bền và Cơm ba bát, áo ba manh, đói không xanh, rét không chết”.

Nhưng mặc không chỉ để đối phó với môi trường, mặc có một ý nghĩa xã hội rất quan trọng : “Quen sợ dạ, lạ sợ áo”. Người ta hơn kém nhau nhiều khi bởi nó :

Hơn nhau cái áo manh quầnThả ra ai cũng bóc trần như ai”và người ta khổ sở nhiều khi cũng vì nó: “Cha đời cái áo rách nàyMất chúng mất bạn vì mày áo ơi!”Mặc trở thành một nhu cầu không thể thiếu được trong mục đích trang điểm, làm đẹp cho con người: “Người đẹp về lụa, lúa tốt về phân, chân tốt về hài, tai tốt về hoa”.Mỗi dân tộc có cách ăn mặc và trang sức riêng, vì vậy, cái mặc trở thành biểu tượng của văn hóa dân tộc. Mọi âm mưu đồng hóa sau khi xâm lăng đều bắt đầu từ việc đồng hóa cách ăn mặc. Từ nhà Hán cho đến Tống, Minh, Thanh, các triều đại phong kiến Trung Quốc xâm lược luôn kiên trì dùng đủ mọi biện pháp buộc dân ta ăn mặc theo kiểu phương Bắc song chúng luôn thất bại. Các vua nhà Lí, Trần cho dạy cung nữ tự dệt vải, không dùng vải vóc nhà Tống. Trong lời hiệu triệu tướng sĩ đánh quân Thanh, Quang Trung viết : “Đánh cho để dài tóc, đánh cho để đen răng…” Vậy cái riêng trong cách mặc của người Việt là gì? Đó trước hết là cái chất nông nghiệp, mà chất nông nghiệp thì thể hiện rõ nhất trong chất liệu may mặc.  

 

 Ảnh minh hoạ

Chất liệu may mặc, để đối phó hữu hiệu với môi trường tự nhiên, người phương Nam ta sở trường ở việc tận dụng các chất liệu có nguồn gốc thực vật là sản phẩm của nghề trồng trọt, cũng là những chất liệu may mặc mỏng, nhẹ, thoáng, rất phù hợp với xứ nóng. Trước hết, đó là tơ tằm. Cùng với nghề trồng lúa, nghề tằm tang có từ rất sớm. Trong những di chỉ khảo cổ thuộc hậu kì đá mới cách nay khoảng 5000 năm (như di chỉ Bàu Tró), đã thấy có dấu vết của vải có dọi xe chỉ bằng đất nung. Cấy lúa và trồng dâu, nông và tang – đó là hai công việc chủ yếu luôn gắn liền nhau của người nông nghiệp Việt Nam. Người Trung Hoa từ xưa cũng đã luôn xem đó là hai đặc điểm tiêu biểu nhất của văn hóa phương Nam; trong chữ “Man” mà Trung Hoa xưa dùng để chỉ người phương Nam có chứa bộ trùng chỉ con tằm.Từ phương Nam, nghề tằm tang đã được đưa lên phương Bắc. Sách Hoàng Đế nội kinh nói về việc này một cách hình tượng là “khi Hoàng Đế chặt đầu Si Vưu thi thần Tằm Tang dâng lụa cho ông” (hiểu là : khi bộ lạc phương bắc do Hoàng Đế làm thủ lĩnh chiến thắng bộ lạc phương Nam do Si Vưu làm thủ lĩnh thì người phương Bắc tiếp thu được bí quyết nghề trồng dâu nuôi tằm của phương Nam). Các sách cổ Trung Quốc như Thủy kinh chú, Tam đô phú, Tề dân yếu thuật đều nói rằng đến đầu công nguyên, trong khi Trung Quốc một năm chỉ nuôi được 3 lứa tằm thì năng suất tằm ở Giao Chỉ, Nhật Nam, Lâm ấp một năm đạt được tới 8 lứa. Để có được nhiều lứa tằm trong năm, tổ tiên ta đã lai tạo ra được nhiều giống tằm khác nhau phù hợp với các loại thời tiết nóng, lạnh, khô ẩm. Đây là một nghề hết sức vất vả cực nhọc : Làm ruộng ba năm không bằng chăn tằm một lứa; Làm ruộng ăn cơm nằm, nuôi tằm ăn cơm đứng. Từ tơ tằm, nhân dân ta đã dệt nên nhiều loại sản phẩm rất phong phú : tơ, lụa, lượt, là, gấm, vóc, nhiễu, the, đoạn, lĩnh, dũi, địa, nái, sồi, thao, vân,… mỗi loại lại có hàng mấy chục mẫu mã khác nhau.

Đến TK XVI-XVIII, khi mà tơ lụa Trung Quốc sản xuất với số lượng nhiều đã chiếm lĩnh thị trường thế giới thì tơ lụa Việt Nam vẫn được đánh giá rất cao do chất lượng của nó. Năm 1749,

một người phương Tây là Poivre nhận xét: “Tơ lụa Đàng Trong so với Trung Quốc thì hơn hẳn về phẩm chất và sự tinh tế. Tơ đẹp nhất là của vùng Quảng Ngãi. Người Trung Quốc mua đi rất nhiều và kiếm lời được từ 10-15%”. Trong số 27 mặt hàng chính mà Nhật Bản nhập của Việt Nam thời kì này (ghi lại trong sách Hòa Hán tam tài đồ sương) thì riêng vải lụa đã chiếm 11 mặt hàng. Thời thuộc Pháp, tơ lụa Việt Nam đã trở thành một nguồn lợi to lớn. Riêng trong khoảng 1909-1913, hằng năm Việt Nam xuất sang Pháp 183,3 tấn tơ lụa các loại. Theo điều tra của P- Gourou, trong số 108 nghề thủ còng khác nhau có ở đồng bằng Bắc Bộ vào năm 1935 thì nghề dệt đứng hàng đầu với tổng số trên 54 nghìn thợ dệt. Ngoài tơ tằm, nghề dệt truyền thống của Việt Nam còn sử dụng các chất liệu thực vật đặc thù khác như tơ chuối, tơ đay, gai, sợi bông .

Vải tơ chuối là một mặt hàng đặc sản của Việt Nam mà đến TK VI, kĩ thuật này đã đạt đến trình độ cao và rất được người Trung Quốc ưa chuộng. Họ gọi loại vải này là “vải Giao Chỉ”. Sách Quảng chí chép : “Thân chuối xé ra như tơ, đem dệt thành vải… Vải ấy dễ rách nhưng đẹp, màu vàng nhạt, sản xuất ở Giao Chỉ”. Cho đến tận TK XVIII, loại vải này vẫn rất được ưa chuộng, Cao Hùng Trưng trong sách An Nam chí nguyên còn ca ngợi : “loại vải này mịn như lượt là, mặc vào mùa nực thì hợp lắm”. Vải dệt bằng sợi tơ đay, gai cũng xuất hiện khá sớm. Đất đai và khí hậu Việt Nam rất thích hợp cao những loại cây này phát triển, tổ tiên ta không những biết tận dụng khai thác nguồn nguyên liệu sẵn có này mà còn thuần dưỡng chúng thành loại cây trồng phổ biến. Sách Trung Quốc thời Hán, Đường đều nói rằng đay, gai ở An Nam mọc thành rừng, dùng để dệt vải. Vải đay gai bền hơn vải tơ chuối nhiều; đem cây đay gai ngâm nước cho thịt thối rữa ra, còn lại tơ đem xe thành sợi dệt vải thì vải cũng mịn như lượt là . Sử sách nước ta ghi: “cứ mỗi tháng vào ngày mồng một, thường triều đều mặc áo tơ gai “.Nghề dệt vải bông xuất hiện muộn hơn nhưng ít ra cũng từ các thế kĩ đầu công nguyên. Sách vở Trung Hoa gọi loại vải này là vải cát bối. Sách Lương thư giải thích: “Cát bối là tên cây, hoa nở giống như lông ngỗng, rút lấy sợi dệt thành vải trắng muốt chẳng khác gì vải đay”. Kĩ thuật trồng bông dệt vải từ phương Nam du nhập sang Trung Hoa vào TK X đến TK XI, vải bông trở thành mốt đến nỗi người Trung Quốc dương thời kêu là “vải bông mặc kín cả thiên hạ”. Trong khi sở trường của phương Nam ta là các loại vải nguồn gốc thực vật thì người phương Bắc có sở trường dùng da thú là sản phầm của nghề chăn nuôi làm chất liệu mặc, thêm vào đó, da (và lông) thú lại rất phù hợp với thời tiết phương Bắc lạnh. Mùa lạnh ở Việt Nam, bên cạnh cách mặc đơn giản và rẻ tiền nhất là mặc lồng nhiều áo vào nhau, người ta may độn bông vào áo cho ấm (áo bông, áo mền.. ). Người nông thôn còn dùng loại áo làm bằng lá gồi, gọi là áo tơi mặc đi làm đồng vừa tránh rét,tránh mưa, vừa tránh gió.(Theo cinet)

Ý nghĩa của trang phục Việt nam

Việt Nam bao gồm nhiều dân tộc, trong đó người Việt có số dân đông nhất và là một trong những tộc người có gốc tích lâu đời trên dải đất này. Mỗi dân tộc mang đậm nét một  bản sắc văn hóa độc đáo. Do đó, trang phục nói chung của từng tộc người nói riêng thật phong phú đa dạng và đầy tính năng qua từng thời kỳ của lịch sử Việt Nam từ trước đến ngày nay.Thông qua cái nhìn lịch đại kết hợp với đồng đại, ta thấy trang phục người Việt, từ dạng kiểu đơn sơ, giản dị, đẹp như tâm hồn người Việt cổ tiếp tục phát triển, hài hòa với môi trường khắc nghiệt của thiên nhiên nhiệt đới, khỏe khoắn với bao cuộc chiến tranh chống ngoại xâm liên miên. Trang phục người Việt là một trong những gì thân thiết nhất đối với con người Việt Nam. Sự gắn bó có tâm hồn này chính là điều xuất phát từ những trái tim yêu thương quê hương đất nước.Trang phục là một nhu cầu vật chất quan trọng trong đời sống của nhân dân ta. Với tính chất thực dụng, nó là một sản phẩm; dưới góc độ thẩm mỹ, nó lại là một tác phẩm. Chức năng cơ bản trước nhất của nó là bảo vệ con người. Về mặt này, trang phục dân tộc Việt đã đạt được hiệu quả cao.Chúng tôi đã bước đầu trình bày về sự chuyên môn hóa các chức năng của trang phục người Việt trong lao động, hội hè, chiến đấu và các mặt khác. Chúng tôi muốn nói thêm: đối với người Việt, trang phục còn có chức năng phòng bệnh, trị bệnh. Với khí hậu ẩm thấp của vùng nhiệt đới gió mùa, bệnh phong thấp phổ biến, người ta chọn gỗ đặc biệt để làm guốc cho người già, vật liệu đặc biệt để làm mũ cho trẻ em. Thắt lưng và trang sức, một vài thứ, cũng có tác dụng đó. Bên cạnh xu hướng này, một xu hướng thường thấy ở người Việt là sử dụng một vật kiêm nhiều chức năng. Chiếc nón lá đã được nhiều người đề cập đến. Chiếc khăn trùm đầu, còn để quàng cổ, vắt vai, làm khăn lau và gặp lúc bất ngờ cũng có khi là vũ khí phòng hộ. Do đó, chúng ta thấy sự ra đời của đôi dép cao su thời kháng chiến chống Pháp chẳng phải là sự kiện ngẫu nhiên, mà mọi sự sáng tạo dựa trên cái gốc vững chắc của bản lĩnh dân tộc. Vấn đề đa chức năng của trang phục người Việt, trong nhiều trường hợp chưa hẳn đã là vì nghèo. Đi bộ vượt Trường Sơn, dù là người giàu, với đôi dép lốp vẫn là phương thức tối ưu nhất.Thời gian gần đây, nhiều người đề cập đến chức năng vệ sinh từ màu đen của chiếc quần phụ nữ. Nếu chịu khó xét điều này trên quan điểm hệ thống, sẽ thấy rõ trong hoàn cảnh kinh tế và lao động hiện nay, vấn đề không dễ dàng giải quyết ngay được. Mặt khác, việc này còn gắn với thói quen thẩm mỹ, còn liên quan đến phạm trù quan niệm, chứ chưa hẳn đã là chuyện tiết kiệm, sợ tốn kém. Nhiều người chỉ thấy trang phục là đối tượng của thị giác nên đòi hỏi nó phải biểu hiện được những chuẩn mực cho sự nhìn. Để đáp ứng yêu cầu này, trong suốt quá trình lịch sử, trang phục người Việt đã có sự chọn lọc về hình dáng, kiểu thức, màu sắc, hoa văn trang trí, chất liệu. Nhưng nhìn qua bộ trang phục của người Việt từ đầu thế kỷ XX trở về trước, chúng ta thấy rõ ngoài việc đáp ứng yêu cầu nhìn, còn có cả nghe, mùi vị và tất nhiên dẫn đến cả xúc cảm nữa. Có thể nhắc đến trang phục của người Việt cổ ở Làng Vạc vào thời dựng nước với những âm vang của chất liệu đồng thau cho đến bộ xà tích bạc đầu thế kỷ này. Phải chăng, tiếng sột soạt của bộ áo váy mới cũng là sự dụng tâm thích thú của người mặc. Bên cạnh tầng lớp giàu sang, quý phái biết sử dụng các loại hương liệu đắt tiền để ướp quần áo, nhân dân thường dùng những thứ phổ biến như: hạt mùi để bọc áo khăn; lá mùi, lá sả… để gội đầu, hoa bưởi, hoa nhài… để cài tóc. Việc chọn lựa các chất để nhuộm màu, cũng tạo cho áo quần những mùi vị nhất định. Phần trong bài chúng tôi mới nói đến việc dùng dầu xoa tóc, nhưng thật ra ở người Việt còn có nhiều thứ dầu, rượu đặc biệt để xoa bóp cơ thể nhằm chống côn trùng, bảo vệ sức khỏe, bảo vệ da… Sự hình thành những hương vị này liên quan đến những tập quán ở từng địa phương nữa.Trang phục người Việt còn được lưu ý dưới góc độ sử liệu. Một cái nhìn thoáng nhanh qua áo quần cũng có thể giúp chúng ta khám phá ra được cái mà các nhà sử học gọi là niên đại tương đối. Việc đoán định niên đại tuyệt đối của trang phục người Việt là chuyên môn hẹp và sâu của rất ít nhà nghiên cứu. Nói chung với những sử liệu này, chúng ta có thể ghi nhận được nhiều dấu ấn của các thời đại lịch sử. Tính đa dạng của trang phục người Việt thể hiện rõ nhất qua từng địa phương. Có khi tính đa dạng này hoàn toàn do kỹ thuật. Nhân dân lao động với áo quần bằng vải, thường hay mặc trước rồi mới nhuộm sau. Do thị hiếu và cũng vì lý do khách quan để cho bền màu, người ta thường nhuộm lót trước: lót xanh cho màu đen, lót đỏ cho màu gụ v.v… Vì thế tuy chỉ cùng một bộ, nhưng Đông Xuân, ta gặp nhiều người mặc màu cháo lòng, màu xanh, màu gạch non… đến Hè Thu lại là những áo quần màu nâu, màu đen, màu gụ v.v…Từ khi giành lại được quyền độc lập, tự chủ vào thế kỷ X, các vương triều phong kiến đã lưu ý đến một sự thống nhất trong đa dạng, với những quy chế, thể lệ. Tính thống nhất này cũng có thể nhận thức được qua tính giai cấp trên trang phục, ở từng mẫu áo, kiểu quần, màu sắc, hoa văn, trang điểm. Trang phục thể hiện tôn ti, trật tự phong kiến, ngăn cấm mọi sự vi phạm. Ngày nay, trang phục của Quân đội nhân dân đã “vượt khung” khỏi phạm vi của một tộc người cụ thể, trở thành một sự thống nhất Việt Nam.Đứng ở góc độ tin học, trang phục người Việt còn là những đặc trưng chỉ định sự khác biệt giữa người Việt và các dân tộc anh em trên đất nước ta, phân biệt được một số mặt như nghề nghiệp, giới tính, thị hiếu thẩm mỹ… của từng vùng. Một cái nhìn khái quá thông qua sự tiến triển thăng trầm của lịch sử giúp chúng ta khẳng định được bản lĩnh vững vàng của phong cách người Việt. Không ít nhà nghiên cứu đã lưu ý đến tinh thần đấu tranh chống đồng hóa của người Việt thông qua trang phục. Điều này đúng, nhưng chưa đủ. Đối với kẻ thù xâm lược từ phương Bắc đem theo chủ trương đồng hóa triệt để bằng cách bắt nhân dân ta thay đổi trang phục, đầu tóc, thì nhân dân ta ngoan cường đấu tranh chống lại, nhiều khi rất quyết liệt. Thời cận đại, đối với bọn địch xâm lăng phương Tây từ biển vào, những nhà nho yêu nước, ví dụ như Nguyễn Đình Chiểu vẫn giữ phong cách: để búi tóc, mặc áo dài, đội khăn đóng, không dùng xà phòng… Nhưng đến một thời kỳ khác, nhân dân ta lại có phong trào cắt tóc ngắn, mặc áo ngắn… Sự thay đổi về mặt hình thức này lại là một phong trào tiến bộ, cho nên đã bị thực dân Pháp lái sang những xu hướng thẩm mỹ về trang phục không lành mạnh. Khi đế quốc Mỹ nhảy vào miền Nam Việt Nam, chúng lại khuyến khích nhân dân ta Mỹ hóa trang phục. Để đấu tranh với bọn thực dân mới, chống lại cái “mới” lố lăng, cầu kỳ, xa lạ, phô trương…, nhân dân các đô thị miền Nam lại tìm cách trở về truyền thống.Trong nước, thời phong kiến, đấu tranh với giai cấp thống trị, bản lĩnh của nhân dân ta cũng theo một xu thế ấy. Ví dụ như chuyện cấm mặc váy của Minh Mạng. Về lý mà nói, cái váy thời Hùng Vương của người Việt cổ đã rất đẹp. Cái quần là một mẫu trang phục ngoại lai, chúng ta tiếp thu được từ các tộc du mục. Trong việc này, ngoài vấn đề chuyên chế và dân chủ, còn có chuyện tính bản địa và ngoại lai. Gần đây một thời kỳ, có cuộc vận động, hô hào phụ nữ nên mặc váy. Giới phụ nữ đã không chấp nhận. Nhưng ở nam giới, ngày nay hầu hết đều mặc áo quần mà ta vẫn quen gọi là Âu phục. Đây là một dẫn chứng cho thấy ở người Việt không hề có sự bài ngoại mù quáng. Họ có thể sẵn sàng tiếp thu những mẫu mới từ bên ngoài một cách có ý thức và có sáng tạo để tồn tại lâu dài hoặc chỉ với một thời gian nhất định, nhưng đều được Việt hóa nhanh hoặc dần dần từng bước.Trang phục cũng là một hiện tượng văn hóa về mặt vật chất, hay văn hóa vật chất. Các chương trên đã cho thấy những điều kiện kinh tế, xã hội có ý nghĩa quan trọng đối với trang phục người Việt. Trước kia, bên cạnh nghề trồng lúa nước, nghề trồng dâu, nuôi tằm là hoạt động sản xuất cơ bản trong đời sống của xã hội người Việt. Vào những thế kỷ đầu Công Nguyên, nhiều người nước ngoài tiếp xúc với Lạc Việt đã phải thốt lên rằng: cây bông ở đây có thể giải quyết được áo chăn cho thiên hạ. Dĩ nhiên cách nói có phần khoa trương nhưng đã lột tả được sự giàu có về nguyên liệu quan trọng này. Về hàng tơ, chưa kể các loại trong Cung Đình, cho đến thế kỷ XVIII, chúng ta thống kê được gần 30 loại mặt hàng, mỗi loại còn có nhiều kiểu khác nhau, ví dụ như gấm, có gấm the, gấm láng, gấm mây, gấm hoa…Đứng ở góc độ văn hóa tinh thần, trang phục còn có ý nghĩa về ý thức chính trị, về đạo đức con người, về quan niệm thẩm mỹ… Sự tự khẳng định mình thông qua trang phục, nhất là đối với thanh niên, là điều cần phải hướng dẫn, giáo dục hơn là phê phán, chỉ trích. Như vậy, trang phục là một nhu cầu vật chất nhưng đồng thời còn là một hiện tượng về văn hóa. Với quan điểm xây dựng nền văn hóa mới và con người mới là điều cần và có thể thực hiện từng bước, từng phần ngay từ hôm nay, và “không phải trình độ văn hóa của xã hội phụ thuộc một cách máy móc vào trình độ phát triển kinh tế”, chúng ta cần xác định dù xã hội ta còn nhiều khó khăn, thiếu thốn nhưng không nhất thiết phải chờ đến khi thật giàu có, sung túc, lúc đó mới quan tâm đến vấn đề trang phục.Dân tộc Việt có câu “Đói cho sạch, rách cho thơm” vừa là để nhắc nhở những yêu cầu cụ thể cho cung cách ăn mặc, nhưng đồng thời còn có mục đích giáo dục một phẩm chất thanh cao, một nếp sống đạo đức, dù trong trường hợp nghèo, đói. Chúng ta không hẹp hòi, bảo thủ trước sự phát triển, thay đổi các kiểu cách trang phục lành mạnh, nhất là trong thanh niên, nhưng không thể công nhận những hiện tượng may mặc đua đòi, chạy theo “mốt” lố lăng, phô trương, xa hoa, lãng phí… xa rời truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc. Đồng thời cũng cần phản đối hiện tượng cho rằng nền kinh tế của ta chưa phát triển cao, nên có thể ăn mặc tùy tiện, cẩu thả, thiếu thẩm mỹ. Từ đó làm giảm giá trị cao đẹp của con người và còn có thể nảy sinh những hậu quả xấu về nhiều mặt. Vì trang phục, trong những chừng mực nhất định, còn là phương tiện rất đắc lực của các quan điểm tư tưởng, các ý đồ chính trị, không chỉ thuộc sở thích hay thị hiếu của cá nhân mà đây là cả một vấn đề văn hóa, một vấn đề xã hội, có tác dụng góp phần thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội, góp phần xây dựng con người mới hoặc ngược lại.Do đó, trang phục, là đối tượng của thị giác, một trong hai giác quan mà Các Mác cho rằng nó dễ cảm nhận cái đẹp một cách tinh tế, phải là một biểu hiện bên ngoài của một nội dung bên trong mang đầy đủ những chuẩn mực lành mạnh, hài hòa, thanh lịch, thực tiễn…

Từ việc tìm hiểu trang phục của những người Việt cổ đến trang phục dân tộc Việt ngày nay và trang phục của các tổ chức chung trong xã hội Việt Nam, chúng ta thấy rõ sự tiếp nối vững vàng giữa truyền thống và hiện đại, trong điều kiện giao lưu văn hóa đa dạng và thường xuyên đã có những sự sáng tạo nhuần nhị và cởi mở giữa tính dân tộc và tính quốc tế. Ngày nay, tuy chưa có nhiều cuộc vận động cụ thể, sát sao và thường xuyên về trang phục dân tộc Việt, cũng như nhân dân Việt Nam nói chung, nhưng từ các nghị quyết lớn về kinh tế và văn hóa của Đảng, chúng ta có thể nhận thức được nội dung và tính chất của những điều mà chúng ta đang quan tâm nằm trong phương hướng chung về sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

(Theo cinet)

Hà Nội – kinh kỳ và kẻ chợ

Trong vốn ngôn ngữ và địa lý Việt, không có đô thị nào ngoài Hà Nội gắn hai chữ “phố phường” và đã trở thành một đặc trưng của đất thượng kinh Thăng Long, Đông Đô, Hà Nội.


Phố phường tấp nập

“Hà Nội, 36 phố phường”, từ lâu đã đi vào ca dao cổ, những thiên tuỳ bút sống động của Thạch Lam, Vũ Bằng… và cái danh xưng ấy đã ăn sâu vào tâm thức của người Hà Thành. Không phải ngẫu nhiên Hà Nội được gọi là “phố phường”. Phố là nơi buôn bán, phường là nơi tập trung người thợ làm cùng nghề, như nghề đúc đồng Ngũ Xã, nghề chạm bạc phố Hàng Bạc… Như vậy, Hà Nội vừa là nơi buôn bán, vừa là nơi sản xuất hàng hoá.

Từ xa xưa, Hà Nội còn được tiếng là “kẻ chợ”. Dân ở đây cũng được gọi Nôm là “dân kẻ chợ”, theo thuật ngữ ngày nay gọi là “dân buôn bán”. Lịch sử ghi lại rằng trước khi vua Lý Công Uẩn hạ chiếu rời đô từ Hoa Lư ra nơi đây thì ngoài dấu tích thành Đại La của người phương Bắc dựng làm trị sở, đã có cộng đồng dân cư người Việt trú ngụ đông đúc làm ăn buôn bán khá trù phú và thực sự Hà Nội bấy giờ là một cái chợ lớn của cả một vùng quanh lưu vực sông Hồng. Lớp dân cư sớm nhất sống ở đây hội tụ từ các làng quê tứ xứ tụ  họp làm ăn, sống thành từng phường hội để mang nghề thủ công và sản vật từ làng quê mình trao đổi buôn bán. Do đó, Hà Nội vừa là nơi hội tụ của giới thương gia, lại là nơi hội tụ các cộng đồng các làng nghề. Ngoài phố buôn, ngày ấy Hà Nội có nhiều chợ, nơi bán các sản vật quanh vùng như chợ Bưởi, chợ Hàng Bè. Nói là chợ nhưng không có quán hàng, người bán hàng tập trung hàng hoá ngay trên hè đường. Hà Nội không những có chợ họp buổi sáng mà còn có chợ họp chiều hôm như chợ Hôm – Đức Viên.

 

Một trung tâm buôn bán lớn của cả lưu vực sông Hồng phải cói tới chợ Đồng Xuân – được xây dựng năm 1889 trên cơ sở của 2 chợ cũ: Bạch Mã và Cầu Đông. Có người đã ví, nếu Hà Nội là một cơ thể, thì Văn Miếu là cái đầu; Hồ Tây, Hồ Gươm là hai lá phổi; giữa một lá phổi có quả tim là đền Ngọc Sơn; chợ Đồng Xuân là cái dạ dày; sông Hồng là động mạch chính, sông Tô Lịch, Kim Ngưu, Nhuệ Giang là mạch máu phụ.

 

Lề lối gia phong người Hà Nội

Từ thế kỷ XI, Hà Nội đã là trung tâm kinh tế. Khi Kinh đô Đại Việt định vị ở Thăng Long, thì Hà Nội là nơi hội tụ quyền lực quốc gia. Trước đó, Hà Nội từng là vị trị sở của người phương Bắc. Qua đó, dân “kẻ chợ” đã tiếp thu được tinh hoa của nền văn minh Trung Hoa. Rồi bảy thập kỷ bị người Pháp đô hộ, cũng là cơ hội để người Hà Nội tiếp nhận nét đẹp của văn minh phương Tây, càng làm cho trí tuệ và lối sống người Hà Nội thêm phong phú. Hà Nội vừa là “kẻ chợ” vừa là Kinh đô, lại là Tràng Thi và là nơi tiếp xúc các nền văn minh Đông – Tây tạo nên một tổng hoà đặc trưng mà không một nơi nào có được, để hình thành nên cái tinh hoa của mình, mà cũng là tinh hoa của một quốc gia.

Mạnh Thường
(Thế giới Ảnh)

Dân tộc Xinh-mun

Dân tộc Xinh-mun có hơn 18.000 người, cư trú ở vùng biên giới Việt – Lào thuộc hai tỉnh Sơn La, Lai Châu. Người Xinh-mun còn có tên gọi là Puộc, Pụa. Tiếng nói dân tộc Xinh-mun thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer.

Người Xinh-mun sống chủ yếu bằng nghề làm nương rẫy, trồng lúa nếp và ngô là chính. Có loại nương chọc lỗ tra hạt giống, có nương dùng cuốc và có nương dùng cày để canh tác. Một số nơi có ruộng nước. Trước kia đồng bào nuôi trâu, dê, lợn…thả rông, nay nhiều bản đã làm chuồng xa nhà cho súc vật. Hái lượm và săn bắn góp phần quan trọng cho đời sống đồng bào. Nghề đan lát khá phát triển, đồ đan đẹp và bền, đồng bào thường đổi đồ đan cho người Thái, người Lào để lấy một phần đồ mặc và đồ sắt. Người Xinh-mun có tập quán ăn trầu, nhuộm răng đen, uống rượu cần, thích gia vị cay.

Trước kia, người Xinh-mun sống du canh, du cư, nay đồng bào đã sống ổn định và lập những làng đông đúc. Đồng bào ở nhà sàn, mái hình mai rùa, có hai thang lên xuống ở hai đầu hồi. Người Xinh-mun đa số mang họ Lò, họ Vi. Mỗi họ đều có kiêng cữ riêng. Các con theo họ cha. Trong nhà, khi người bố chết, thì con trai cả giữ vai trò quan trọng.

Trong hôn nhân, nhà trai phải đưa tiền cho nhà gái. Sau lễ dạm, lễ hỏi mới đến lễ đi ở rể, thường sau vài ba năm lúc cô dâu chú rể đã có vài ba con, nhà trai mới tổ chức đón dâu về. Kể từ lễ đi ở rể, đôi vợ chồng phải đổi tên riêng của mình, lấy chung một tên khác do cậu, bố mẹ vợ hay thầy cúng đặt cho.

Phụ nữ Xinh-mun thường đẻ tại nhà. Khi con gần đầy tháng, cha mẹ nhờ thầy cúng đặt tên.

Khi có người chết, người nhà bắn súng báo tin cho dân làng biết. Đồng bào không có tục cải táng, tảo mộ…

Người Xinh-mun thờ cúng tổ tiên hai đời tạo một nóc nhà, nhưng chỉ làm lễ cúng khi gia đình làm nhà mới, ăn cơm mới, có đám cưới v.v…Bố mẹ khi qua đời được thờ cúng trong ngôi nhà nhỏ một mái dựng gần nhà ở. Trong sản xuất, đồng bào có nhiều nghi lễ và kiêng cữ. Dân làng tổ chức chung lễ cúng ma bản mỗi năm một lần. Lúc đó cũng là dịp cúng các ma người chết không bình thường. Người Xinh-mun còn tham gia lễ cúng mường hàng năm của người Thái trong vùng.
(Theo website Dang cong san Viet Nam)

Dân tộc Xơ-Đăng

Dân tộc Xơ-đăng có gần 127.000 người, cư trú tập trung ở tỉnh Kon Tum, một số ít ở miền núi của tỉnh Quảng Ngãi và tỉnh Quảng Nam. Dân tộc Xơ-đăng có các nhóm địa phương: Xơ-đăng (Hđang), Cà-dong, Tơ-đrá, Mơ-nâm, Hà-lăng. Tiếng Xơ-đăng thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer. Người Xơ-đăng tin ở vạn vật hữu linh, thờ nhiều thần liên quan đến sản xuất và sinh hoạt.

Người Xơ-đăng làm rẫy là chính. Nhóm Mơ-nâm làm ruộng nước nhưng không cày bừa mà lại dùng sức trâu, sức người để giẫm nát đất. Đồng bào chăn nuôi gia súc, gia cầm, săn bắn, hái lượm, đánh bắt cá, đan lát, dệt, rèn. Nhóm Tơ-đrá vốn có nghề luyện từ quặng ra sắt và rèn rất phát triển và nổi tiếng.

Mỗi làng Xơ-đăng có máng nước chung, có bãi mộ chôn người chết… Nhà cửa của dân làng quây quần bên nhau, mọi người gắn bó giúp đỡ nhau. Ông ”già làng” được trọng nể nhất, là người điều hành mọi sinh hoạt chung trong làng và đại diện của dân làng.

Ở vùng Xơ-đăng có nơi còn chế độ gia đình nhiều thế hệ ở trong nhà dài. Hiện nay, từng gia đình nhỏ tách ra làm ăn riêng, ở riêng đã phát triển. Tên của người Xơ-đăng không có họ kèm đi theo, nhưng có từ chỉ định giới tính: nam là A hay U, nữ là Y (ví dụ như là ANhong, Y Hên). Trai gái lớn lên, sau khi đã cưa răng theo phong tục (ngày nay ít người còn theo phong tục này), được tìm hiểu, yêu nhau. Lễ cưới xin đơn giản. Sau lễ cưới, đôi vợ chồng ở luân chuyển với từng gia đình mỗi bên ít năm, rất ít trường hợp ở hẳn một bên.

Trong số các lễ cúng, lễ hội truyền thống của người Xơ- đăng, lễ đâm trâu được tổ chức long trọng nhất, đông vui nhất. Người Xơ-đăng thích hát múa, tấu chiêng cồng, chơi đàn, thổi sáo, kể chuyện cổ. Đàn ông không chỉ có tinh thần thượng võ, mà còn tài nghệ trong kiến trúc, điêu khắc và hội họa, tạo nên những sản phẩm đặc sắc, tiêu biểu là ngôi nhà rông và cây nêu trong lễ đâm trâu.

Mỗi làng người Xơ-đăng đều có nhà rông, nóc và mái được tạo dáng nhánh buồm lớn hoặc lưới rìu khổng lồ ngửa lên trời. Trên 2 đầu nóc và dọc nóc nhà được trang trí đẹp. Nhà rông được dân làng tạo dựng nên hoàn toàn bằng thảo mộc có sẵn ở địa phương. Kỹ thuật xây dựng chỉ là lắp ghép và chằng buộc, không hề dùng đến đinh sắt, dây thép…

Nhà rông thực sự là công trình kiến trúc, một sản phẩm văn hóa, là trụ sở và câu lạc bộ trong làng của đồng bào Xơ-đăng.

(Theo website Dang cong san Viet Nam)

Dân tộc Sán Chay

Dân tộc Sán Chay còn được gọi là Cao Lan, Sán Chỉ, Mán, Hờn Bạn, gồm hơn 147.000 người. Đồng bào cư là trú chủ yếu ở Tuyên Quang, Bắc Cạn Thái Nguyên, Bắc Giang và rải rác ở các tỉnh: Quảng Ninh, Yên Bái, Lạng Sơn, Phú Thọ. Người Sán Chay gồm hai nhóm phân biệt với nhau về ngôn ngữ. nhóm nói tiếng Cao Lan gần gũi với tiếng Tày, Nùng và nhóm nói tiếng Sán Chỉ gần với thổ ngữ Hán phương Nam.

Người Sán Chay coi trọng thờ tổ tiên, song cũng chịu ảnh hưởng của Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo.

Người Sán Chay làm ruộng nước là chính, nông nghiệp đóng vai trò quan trọng. Làng xóm thườg tập trung một vài chục gia đình, sống gắn bó bên nhau. Xưa kia ở vùng người Sán Chay nhà sàn rất phổ biến, còn ngày nay, nhà đất (nhà trệt) trở nên thông dụng hơn. Nhà được mường tượng như con ”trâu thần”, 4 cột chính tượng trưng cho 4 chân, rui, mè là những xương sườn, nóc nhà được coi là sống lưng. Tại một trong hai góc thuộc phần ngoài của nhà có một căn buồng nhỏ, nơi thờ ”hương hỏa”, được coi là linh thiêng nhất trong mỗi gia đình.

Hiện nay trang phục của người Sán Chay thường giang người Kinh hoặc người Tày. Thường ngày phụ nữ sán Chay dùng chiếc dây đeo bao dao thay cho thắt lưng. Trong những dịp lễ tết, hội hè, các cô gái thường thắt 2-3 chiếc thắt lưng bằng lụa hoặc bằng nhiễu, với những màu khác nhau.

Dân tộc Sán Chay có nhiều họ, mỗi họ chia ra các chi. Từng họ có thể có một điểm riêng biệt về tập tục. Mỗi họ thờ ”hương hỏa” một thần linh nhất định. Trong gia đình người Sán Chay, người cha là chủ nhà. Tuy nhà trai tổ chức cưới vợ cho con nhưng sau cưới, cô dâu lại về với cha mẹ đẻ, thỉnh thoảng mới về nhà chồng, cho đến khi mang thai mới về ở hẳn với chồng.

Dân tộc Sán Chay có nhiều truyện cổ, thơ ca, hò, vè, tục ngữ, ngạn ngữ. Đặc biệt sình ca là hình thức sinh hoạt văn nghệ phong phú hấp dẫn nhất của người Sán Chay. Các điệu múa Sán Chay có: múa trống, múa xúc tép, múa chim gâu, múa đâm cá, múa thắp đèn… Nhạc cụ cũng phong phú, gồm các loại thanh la, não bạt, trống, chuông, kèn…

Vào ngày hội đình, hội xuân, tết Nguyên đán… đồng bào Sán Chay vui chơi giải trí, có những trò diễn sôi nổi như. Đánh quay, ”trồng cây chuối”, ”vặn rau cải”, tung còn…
(Theo website dang cong san)

Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng

Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng nằm ở phía Tây sông Gianh, cách thị xã Đồng Hới 40km theo hướng Tây Bắc, cách biên giới Việt Nam và CHDCND Lào 10km về phía Tây. Đây là một khu vực rộng lớn nằm trên địa phận huyện Bố Trạch bao gồm các xã: Tân Trạch, Thượng Trạch, Phúc Trạch, Xuân Trạch, và Sơn Trạch với diện tích 85.754ha, được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới vào năm 2003.

Về địa hình, Phong Nha – Kẻ Bàng có 2 dạng: Địa hình núi đá và địa hình núi đất. Núi đá vôi nằm về phía Tây khu di sản bị chia cắt mạnh. Đỉnh cao nhất gần 1000 m, độ cao trung bình 600 m. Đây là khu vực núi đá vôi (Karst) điển hình và lớn nhất Việt Nam. Khối núi đá vôi có thành dựng đứng, độ dốc lớn, xen kẽ các núi là các thung lũng hẹp, cây cối rậm rạp, nhiều nơi chưa có dấu chân người đi đến. Giữa vùng núi đá vôi có một núi đất, rộng 2.550 ha với đỉnh cao nhất là Cổ Khu (886m). Phía Đông khu vực là dãy núi đất Ba Rền, U Bò chạy theo hướng Bắc Nam. U Bò (1.090 m) là đỉnh núi cao nhất của khu vực phía Đông.

Về địa chất, Phong Nha- Kẻ Bàng là vùng Karst trẻ, mức độ phong hoá mạnh. Vùng Karst dài khoảng 200 km, dọc theo dãy Trường Sơn vượt qua biên giới Việt – Lào. Cấu tạo chủ yếu bởi đá vôi Cacbon – Pécmi với chiều dày l .000 – l.500 m. Tất cả khối núi đá vôi đều bị ảnh hưởng bởi hệ thống đứt gẫy, 2 hướng gấy chính là Tây Bắc – Đông Nam và Đông Bắc – Tây Nam.

Hệ thống đứt gẫy chằng chịt trên mặt đá vôi đã tạo điều kiện để nước dễ dàng thấm vào đá làm tăng khả năng hoà tan. Vì vậy hệ thống hang động ở vùng Phong Nha mang đặc tính của hang động vùng Karst nhiệt đới ẩm. Hệ thống hang động hùng vĩ của Phong Nha được tạo ra do quá trình các khe nứt kiến tạo, sau đó là quá trình phong hoá vật lý và hoá học đã gặm mòn, hoà tan, rửa trôi qua hàng triệu năm. Trong điều kiện nhiệt đới ẩm, quá trình Karst hoá rất mạnh mẽ về cường độ và tốc độ phá huỷ. Ngoài hệ thống núi đá vôi, vùng núi đất có nền đá mẹ chủ yếu là đá Macma axít, đá sét, đá biến chất và phù sa cổ.

Về thổ nhưỡng, khu vực Phong Nha có nhiều hoại đất hình thành từ các nguồn đá mẹ khác nhau. Đất chủ yếu là đất Ferarít đỏ vàng trên núi đá vôi, đất Feralit vàng trên đá Mácma axít, đất Ferarit vàng nhạt và đất phù sa bồi tụ ven sông.

Về khí hậu, khu vực Phong Nha- Kẻ Bàng có lượng mưa lớn nhưng giảm dần từ Bắc xuống Nam, mùa mưa phía Bắc muộn hơn mùa mưa phía Nam 1 tháng. Lượng mưa cực đại ở phía Bắc vào tháng 10 và phía Nam vào tháng 9. Biên độ nhiệt ngày và năm đều lớn. Gần khu Phong Nha nhất có Trạm Quan trắc Khí tượng thuỷ văn Tuyên Hoá. Ngoài ra còn có trạm do mưa ở Troóc và Đồng Tâm. Độ ẩm trung bình tháng từ 85-90%, độ ẩm lớn nhất trong năm là tháng 2 và 3, độ ẩm thấp nhất vào tháng 6, 7.

Về thuỷ văn, do địa hình Karst nên trong khu vực, hiện tượng nước chảy ngầm là phổ biến. Trên mặt đất có một số khe suối nhỏ đổ vào suối Rào Thương, chảy lộ thiên nhưng bị ngắt quãng khi chảy ngầm qua các hang động, sau khi qui tụ lại chảy về sông Chày, sông Tróc và hợp lưu vào sông Son và đổ vào thượng nguồn sông Gianh. Mùa mưa, các suối cạn có nước dâng cao, tạo dòng chảy lớn, gây lũ cục bộ, nhưng sau cơn mưa nước rút rất nhanh.

Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng gồm nhiều quần thể hang động, núi đá vôi, có hệ thống thực vật và động vật phong phú, đa dạng. Hệ thống thảm thực vật nơi đây đa dạng với 8 kiểu và kiểu phụ, trong đó có 4 kiểu và kiểu phụ thảm thực vật quan trọng đó là: Rừng kín nhiệt đới thường xanh, ẩm trên núi đá vôi; Rừng thứ sinh sau khai thác trên núi đá vôi; Rừng kín thường, xanh nhiệt đới trên núi đất và Quần lạc cây bụi, cây gỗ rải rác trên đất đá vôi.

Rừng kín nhiệt đới thường xanh, ẩm trên núi đá vôi: có thảm thực vật với diện tích lớn nhất và phân bố thành mảng lớn ở phía Bắc và phía Tây của khu vực. Thành phần chủ yếu ở đây là các họ nhiệt đới với các loài thực vật đặc trưng như: Sao đá, Nàng hai, Trai, Mùng quân, Nghiến, Lát hoa, Sên đào. Về họ, có các họ chiếm ưu thế như: họ Ba mảnh vỏ, họ Xoan, họ Bồ hòn, họ Côm, họ Dâu tầm, họ Xoài, họ Thị. Thực vật hạt trần chỉ thấy xuất hiện lẻ tẻ trên các vách đá với loài Tuế núi đá và trong các hẻm đá có đất bồi có Loài Hoàng đàn giả.

Trong rừng có các hiện tượng đặc trưng của rừng nhiệt đới như rễ bạnh, hoa quả trên thân, dây leo gỗ khá phổ biến. Các cây tái sinh thường chỉ xuất hiện cục bộ trong các hang hốc, khe rãnh có đất lắng đọng.

Rừng kín nhiệt đới thường xanh, ẩm trên núi đá vôi phân thành 3 tầng rõ rệt. Thứ nhất là tầng sinh thái bao gồm các cây có kích thước lớn phổ biến là Sấu, Trám, Trường, Vải, Trâm, Côm, Mùng quân, Gội, Sao mặt quỉ, Nghiến, Mun sọc. Đường kính phổ biến của cây gỗ tầng này là trên 40 – 50 cm. Thứ hai là tầng dưới tán gồm những cây gỗ nhỏ hơn hẳn với đường kính khoảng 15 – 18 cm. Chúng chiếm ưu thế về số cây trong quần thụ với mật độ khá dày, phổ biến là các loài: Nàng hai, Máu chó, Hoa cải, Bọt ếch thân gỗ, Lá nến, Cò ke. Tầng thứ ba là tầng thảo quyết. Tầng này xuất hiện nhiều ở các vùng ẩm với các loài cây phổ biến là: Thu hải đường, Bóng nước, các loài họ thiên niên kiện, lá thuyền.

Rừng thứ sinh sau khai thác trên núi đá vôi

Kiểu phụ thảm thực vật này phân bố chủ yếu ở ven đường 20 và khu vực tiếp cận điểm quần cư phía Bắc. Nó có nguồn gốc trực tiếp từ kiểu thảm thực vật rừng nhiệt đới thường xanh, ẩm trên núi đá vôi sau khi chịu tác động của con người. Hầu hết các điểm hiện có kiểu phụ này đều là những nơi có địa hình ít hiểm trở, dễ dàng vận chuyển lâm sản. Rừng ở đây đôi khi bị tác động với nhiều mức độ khác nhau như tìm trầm, thu hái cây thuốc, chặt hạ cây gỗ quí hiếm, khai thác song mây và săn bắt động vật. Ở trạng thái bị chặt mạnh hay đốt cháy, lớp cây gỗ của rừng nguyên sinh gần như bị tiêu diệt hoàn toàn và thay thế bằng các loài cây tiên phong ưa sáng, mọc nhanh có gỗ mềm như: Ba soi, Ba bét, Thung, Màng tang, Hu bọ nẹt, Chẩn, Hèo đá. Dưới tán rừng này thường là loại đất Ferarít màu đỏ nâu, phong hoá từ đá vôi, có tầng đất khá dày, còn độ phì nên lớp sinh trưởng tốt.

Quần lạc cây bụi, cây gỗ rải rác trên đất đá vôi: Kiểu phụ thảm thực vật này chiếm một diện tích trung bình, tập trung ở khu vực trung tâm, phía Đông đường 20 và nằm kề bên điểm quần cư của xã Tân Trạch. Nó phân bố ở các sườn dốc thoải hoặc các gò đống có đỉnh tròn bằng nằm bên khe suối. Lớp cây gỗ lớn ở đây đã tiêu biến. Những cây còn sót lại đa phần là những cây gỗ tạp như Đa, Trâm, Sảng, Mắn đỉa, Gái… có phẩm chất xấu. Các cây gỗ nhỏ và cây bụi phổ biến bao gồm: Sòi tía, Cò ke, Hu, Thầu tấu, Đom đóm, Thao kén, Cỏ Lào… Mặt đất nhiều chỗ lộ trơn, chặt cứng và có hiện tượng kết vón, khả năng tái sinh tự nhiên rất kém.

Rừng kín thường xanh nhiệt đới ẩm trên núi đất: Kiểu thảm thực vật này có diện tích rộng lớn trong khu vực (11.038 ha), phân bố tập trung thành hai khối lớn: một khối ở phía Đông kéo dài từ suối làng Va, ven theo lộ 20 tới tận Rào Thương. Đặc trưng của khu vực này là nền đá mẹ khác nhau về chủng loại (phổ biến là đá cát, đá phiến và đá biến chất, đá Mácma axit). Mặt khác, các dòng chảy mặt (khe, suối) cũng đã thấy xuất hiện ở đây. Sản phẩm phong hoá từ loại đá mẹ này thường là loại đất Ferarit đỏ vàng hoặc vàng nhạt, có tầng đất biến đổi từ nông đến sâu tuỳ theo lập địa. Tại đây, rừng cấu trúc chủ yếu bởi các loài cây gỗ thường xanh. Những cây gỗ rừng lá: Dầu ke, Chò nhai, Sâng, Sổ , Bằng lăng chỉ là những cá thể mọc rải rác. Các loài lá rộng được xem là thành phần cấu tạo chính của các tầng rừng. Thực vật Hạt trần dường như chỉ thấy điểm xuyết trên những lập địa đỉnh giông cao > 800 – 900m với đặc điểm nghèo về số lượng. Tính chất phong phú và mức độ phức tạp về tổ thành thực vật của kiểu rừng này, biểu lộ rõ rệt nhất ở những quần thụ phân bố ở độ cao dưới 600m – 700m.

Do có phần nền là những loại đất tương đối sâu, dày, đủ ẩm nên rừng sinh trưởng tốt, cây gỗ có đường kính trên dưới 100cm chiếm số lượng nhiều. Mặt khác, kiểu thảm thực vật này là điều kiện thích hợp để các loài động vật rừng có giá trị về kinh tế sinh sống như: Bò tót, Mang lớn, Nai, Hoẵng, Gấu, Tê tê, Cày bay, Chồn mực và các loài chim quý thuộc họ Gà.

Với đặc điểm khí hậu nhiệt đới với độ che phủ trên 90%, vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng là nơi hội tụ của nhiều loài động, thực vật phong phú và có tính đa dạng sinh học cao. Cho đến nay, đã thống kê được 140 họ, 413 chi, 735 loài thực vật bậc cao phân bố theo các nhóm bao gồm các nhóm thực vật như: quyết, thực vật hạt trần, thực vật hạt kín. Hệ thực vật Phong Nha thể hiện nơi giao lưu của hai khu hệ thực vật phía Nam và phía Bắc với các loài thực vật đặc trưng như: Ngiến, Chò nước, Dầu ke, Dầu đọt tím. Phong Nha là nơi sinh sống của nhiều loài cây gỗ lớn đặc biệt nơi đây có cây chò hàng ngàn năm tuổi, đặc biệt cây Tàu đá gần đây mới được phát hiện và công bố. Trong số các loài thực vật, 25 loài thực vật được ghi trong sách đỏ Việt Nam.

Hệ động vật Phong Nha đặc trưng cho khu hệ động vật Bắc Trường Sơn và có quan hệ gần gũi với khu hệ động vật Ấn Độ – Miến Điện. Trong số các loài đã thống kê được, có 461 loài động vật có xương sống, bao gồm 65 loài thú, 260 loài chim, 53 loài bò sát, 22 loài ếch và 68 loài cá. Có 47 loài được ghi trong sách đỏ Việt Nam, 21 loài cần được ưu tiên bảo vệ mức độ toàn cầu và đã ghi trong danh sách đỏ các loài động vật có nguy cơ bị đe doạ. Loài thú mới được phát hiện ở Phong Nha- Kẻ Bàng là Mang lớn.

Phong Nha có khu hệ động vật tương đối phong phú, đặc biệt là thành phần các loài thú. Nhiều loài bị đe doạ đã tập trung ở đây như Hổ, Gấu, Sơn dương, Sói đỏ, Báo hoa mai… Do có vùng núi đá vôi rộng lớn nhiều hang động, nhiều nguồn cây thức ăn dân thưa nên các loài linh trưởng đặc biệt phát triển. Tại đây, đã thống kê được 9 loài và phân loài linh trưởng, chiếm 40,9% tổng số loài linh trưởng của Việt Nam đặc biệt 7 loài đã được ghi vào Sách đỏ Việt Nam, 3 loài đặc hữu hẹp là Voọc Hà Tĩnh, Chà vá chân nâu, vượn đen má trắng và l loài đặc hữu Đông dương là Cu ly lớn.

Vườn quốc gia Phong Nha- Kẻ Bàng hiện nay có 260 loài chim thuộc 55 họ và 18 bộ, trong đó có l2 loài đã được ghi trong Sách đỏ Việt Nam và có 4 loài cần được bảo vệ ở mức độ toàn cầu. Về cá, khu Phong Nha – Kẻ Bàng có số loài nhiều với 61 loài thuộc 23 họ và 11 bộ (trong khi đó VQG Bạch Mã có 33 loài, VQG Ba Bể 42 loài, khu BTTN Vụ Quang có 58 loài, BTTN Pù Mát 54 loài). Nguyên nhân sự giàu về thành phần các loài cá ở Phong Nha vì nơi đây có địa hình phức tạp nhiều sông suối bị cách ly và nhiều sinh cảnh thích hợp do đó ở Phong Nha có cả các loài cá sông suối, cá vùng núi cao, cá đồng bằng và cả cá biển di cư vào. Có 4 loài cá đặc hữu chỉ gặp ở Phong Nha và vùng lân cận là: Cá đày, Cá gáy hoa, Cá Phong Nha và Cá nghét. Một loài cá kinh tế đáng chú ý ở Phong Nha là cá Chình. Chúng thường trú ẩn trong các hang hốc núi đá dọc sông Chày trong khu bảo tồn.

Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng nổi tiếng với khu động Phong Nha. Đây là những mẫu hình nổi bật thể hiện các thời kỳ phát triển lớn của lịch sử trái đất, các tiến trình phát triển tầng địa chất bao gồm những hang động độc đáo và hiếm có với giá trị thẩm mỹ toàn cầu. Trong khối núi đá vôi có một quần thể hang động với chiều dài 64.385m với tổng số 17 hang khác nhau được chia làm hai hệ thống hang động chính, đó là hệ thống động Phong Nha gồm có 9 hang lớn nhỏ và hệ thống Hang Vòm bao gồm 8 hang lớn nhỏ. Hệ thống hang động Phong Nha gồm có: Hang Phong Nha, Hang Tối, Hang E, Hang Chà An, Hang Thung, Hang Én, Hang Khe Tiên, Hang Khe ry, Hang Khe Thi. Hệ thống Hang vòm gồm có: Hang Vòm, Hang Đa Cao, Hang Duật, Hang Cá, Hang Hổ, Hang Over, Hang Pygmy, Hang Rục Caroòng. Tổng chiều dài các hang động khu Phong Nha là 64.385m. Các hang này thường có những con sông ngầm chảy dưới lòng núi đá vôi, có chỗ trồi lên mặt đất, song tất cả các nhánh sông ngầm đều chảy ra sông Chày, sông Son rồi đổ vào sông Gianh và chảy ra biển.

Hệ thống Động Phong Nha được miêu tả với những hang động sau:

Hang Phong Nha: Cửa hang Phong Nha là phần cuối của nhánh sông ngầm chảy ra sông Son. Hang có chiều dài khoảng 7.729 m, thuyền nhỏ có thể đi sâu vào lòng hang l.500 m.

Hang Tối: nằm ở phía ngược dòng sông Son vào đầu nhánh sông Chày phía bên trái. Hang có chiều dài khoảng 5.258 m và chiều cao 83 m. Cửa Hang Tối cao và rộng, xung quanh cửa hang là rừng cây rậm rạp, ở đây có đàn Vọc Hà Tanh sinh sống.

Hang E: Có chiều dài 736m, là một hang nhỏ nằm ở phía Động Phong Nha, trong một thung sâu. Theo đường mòn Hồ Chí Minh qua eo gió là đến được hang.

Hang Chà An

Hang ở gần cột km 16 chỗ con suối chảy vắt qua đường 20. Hang có chiều dài 667 m, rộng 15 m, có không gian rộng rãi, thoáng mát.

Hang Thung

Hang Thung cũng là con sông ngầm có chiều dài 3.351 m, chiều cao có chỗ lên tới 133 m. Đây là đầu mối đón nhận nguồn nước từ Rào Thương chảy về.

Hang Én

Từ đường 20, qua nhiều dốc, suối và những khu rừng nguyên sinh phía Tây dãy núi U Bò là đến cửa Hang én. Hang có chiều dài 1.645 m, cao 78,6 m. Cửa hang rộng, thoáng có bãi cát rộng sạch sẽ. Trên các vách núi cửa hang là nơi sinh sống của hàng vạn con chim én.

Hang Khe Tiên

Là hang mới phát hiện, nằn ở phía Nam khu Phong Nha. Cửa hang là phần cuối của suối Toan Tiên bắt đầu chảy vào núi đá. Hang có độ dài 520m

Hang Khe Ry

Hang nằm ở phía Nam khu Phong Nha. Cửa hang là nơi suối Khe Ry, con suối ngầm có độ dài 13.817 m và độ cao 120 m, bắt nguồn từ vùng núi cao 1300 m. Hang Khe Thi

Đây là hang nhỏ, có chiều dài 35 m, mới được nghiên cứu. Suối Khe Thi bắt nguồn từ vùng núi cao đến cửa hang Khe Thi suối chảy ngầm vào lòng núi, nối đến hang Thúng rối chảy vào hệ sông ngầm hang Phong Nha.

Hệ thống Hang Vòm của động Phong Nha gồm:

Hang Vòm

Theo đường mòn Hồ Chí Minh, qua eo gió ngược dòng sông Chày là đến Hang Vòm. Hang Vòm có chiều dài l5.050 m cao 145 m, là sự liên kết giữa nhiều hang, sông ngầm, lòng hồ trong núi. Sự kết hợp hài hoà giữa các cột thạch nhũ, tường đá, hồ nước và ánh sáng tự nhiên phản chiếu tạo nên những cảnh quan hùng vĩ.

Hang Đai Cao

Hang Đai Cao là đoạn nối tiếp của hang Vòm. Hang có độ dài l.645 m và cao 28.

Hang Duột

Là hang nối tiếp với Đai Cao có chiều dài 3.927 m và cao 45 m, Hang tuy nhỏ nhưng là con sông ngầm có nhiều bãi đá, bãi cát và các hang khô liên kết.

Hang Cá

Hang rộng nhưng ngắn, có chiều dài l .500 m và cao 62 m. Trong dòng hang có nhiều bãi đá lớn.

Hang Hổ

Là hang tiếp nối với hang Cá, hang có chiều dài 1 .616 m và cao 46m. Hang là con sông ngắn với nhiều bãi đá và bãi cát.

Hang Over

Có chiều dài 3.244 m, cao 103 m, độ rộng từ 30 – 50 m, có nhiều bãi cát và bãi đá rộng lớn.

Hang Pygmy: Là hang nằm gần hệ suối chảy từ núi cao xuống. Hang ngắn có độ dài 845 m, cửa hang rộng, có nhiều bãi đá.

Hang Rục Caroòng

Hang Rục Caroòng đi theo đường 20 đến km 38, rẽ bên phải khoảng 1 km. Nơi đây có 1 bản tộc người A rèm ở trong các lều và hang đá. Họ sống chủ yếu bằng hái lượm. Hang cũng có tên là hang Rục, là đoạn cuối của suối Cà roòng bắt đầu chảy vào núi đá.

(Theo cpv.org.vn)

%d bloggers like this: